"Tôi sợ nhất tư duy bảo sao làm vậy"

Thể thao - Văn hóa và đàn ông (2009)
04:54' CH - Chủ nhật, 05/06/2016

Ở góc độ người trực tiếp tham gia, điều hành các chính sách Nông Nghiệp-Nông thôn, nguyên Bộ trưởng, Phó thủ tướng phụ trách Nông nghiệp-nông thôn, Nguyễn Công Tạn, thẳng thắn: “Tư duy hồi đó của lãnh đạo ta chỉ có như vậy tôi cũng không hơn…”. Với mười năm ở cương vị cao nhất của ngành nông nghiệp (1987-1997), và là người chứng kiến, khởi động, điều hành nhiều chương trình lớn: 5 triệu hecta rừng, 1 triệu tấn mía đường, cấp 1 hóa giống lúa lai… Những chương trình ấy được gì, mất gì và tại sao thành công vẫn còn khiêm tốn?

Không quên

Ông còn nhớ những chương trình chuyển đổi nông nghiệp được phát động hơn 10 năm về trước?

Tôi vẫn còn day dứt lắm, làm sao quên được. Nhiều chương trình ý tưởng lớn, tham vọng lớn, thời điểm cũng thuận lợi, vậy mà sau nhiều thực hiện mức độ thành công không được như mong đợi. Kết cục là bây giờ bà con nông dân nhiều vùng dự án vẫn nghèo túng, khó khăn, vẫn phải loay hoay với ruộng vườn... Tôi gắn bó với nông nghiệp - nông thôn đúng 50 năm rồi, trải qua mấy đời Tổng Bí thư, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng đã thử nghiệm phát động rất nhiều mô hình, thành công cũng có, thất bại cũng nhiều...

Theo ông các chương trình đó, thành công đến mức độ nào?

Cần phải nói rõ rằng, nhiều chủ trương chuyển đổi phát triển kinh tế xã hội cho vùng nông thôn, không thể nói tất cả đều thất bại, có điều thành công, hiệu quả mang lại còn thấp. Không thành công một phần do không phân tích, mổ xẻ đúng nguyên nhân, các yếu tố cần và đủ trước khi khởi động một chương trình KT-XH lớn cho nông nghiệp - nông thôn, do vậy các chính sách giải pháp đề ra chưa trúng lắm. Trong khi đó, đa phần nông dân chỉ biết trông chờ thụ động vào các chính sách của chúng ta.

Nể nang

Trở lại chương trình 1 triệu tấn đuờng. Được biết đây là chương trình mang dấu ấn của ông nhiều, nhưng tại sao lại thua lỗ không thành công. Nguyên nhân ở đâu thưa ông?

Đây là một chương trình quốc gia lớn (1995-2000) và tôi rất nặng lòng với nó. Đánh giá được hay không được theo góc độ nào, kinh tế hay xã hội? Về góc độ kinh tế, sau đó nói các doanh nghiệp mía đường thua lỗ gần 3.000 tỷ đồng, tôi không bình luận vì chưa có tổng kết đánh giá rõ ràng... Tôi chỉ muốn nói ở góc độ xã hội, nhờ có chương trình phát triển vùng cây nguyên liệu mía đường Lam Sơn, Bình Định, Nghệ An... mà nhiều cơ sở hạ tầng điện đường, trường trạm đã được xây dựng ở các địa phương vùng dự án và vùng phụ cận khá nhiều, lôi kéo hàng chục vạn hộ nông dân tham gia, cái được về mặt xã hội làm sao tính được hết? Còn việc có quá nhiều tỉnh xây dựng nhà máy mía đường, thực ra hồi đó khi triển khai, qua nhiều tỉnh lên Trung ương xin xây dựng nhà máy đường, phát triển ồ ạt vùng cây nguyên liệu. Họ cũng muốn tỉnh, huyện mình đi lên phát triển KT-XH từ cây mía. Nó xuất phát từ sự nể nang...

Lúc đó, tư cách là Bộ trưởng Bộ NN-PTNT tại sao, ông không phanh lại?

Vấn đề ở chỗ đó. Sai là vì nể nang, khi thấy quá dư thừa, “phanh” không kịp. Mà anh biết rồi, quy hoạch vùng nguyên liệu không chỉ có một ngành NN-PTNT làm, mà còn cả bên Bộ Kế hoạch và Đầu tư, rồi Bộ tài chính. Cái chính là thiếu qui hoạch tổng thể. Khi có quy hoạch lại bị phá vỡ do địa phương, phát triển nóng vội, tưởng ngon ăn dẫn đến ra quyết định đầu tư theo kiểu nể nang, dàn trải. Bên cạnh đó khâu dự báo vĩ mô nhu cầu tiêu thụ đường (trong nước và xuất khẩu) đều sai, không tính đến những thị trường lớn như Ấn Độ, Trung Quốc hay Thái Lan họ cũng đang dư thừa đường, giá thành sản xuất của họ lại rẻ hơn nhiều so với ta (thời điểm đó 1 kg xuất của Việt Nam giá 7.500 đồng, giá đường của Thái Lan, Indonesia nhập khẩu chỉ 5.300 đồng/ kg)...

Xin hỏi thẳng, không chỉ một dự án mía đường, suốt quá trình làm Bộ trưởng, rồi là Phó thủ tướng khi phê duyệt đề án, chính sách do cấp dưới trình, ông đã bác cái nào chưa?

Những chính sách điều hành chung của ngành NN-PTNN liên quan đến mùa vụ, giống má, cây con cụ thể hàng năm… theo quy trình do các Thứ trưởng điều hành, tất nhiên tôi cũng được biết. Tôi còn nhớ, khi xem xét một số dự án, tôi cũng nhiều lần phê vào đề án: Đề nghị anh (Thứ trưởng, Vụ trưởng, Cục trưởng) xem lại kỹ hoặc điều chỉnh lại theo hướng... Còn với những chương trình Quốc gia tất nhiên phải trải qua họp hành, hội thảo nhiều lần, trình lên, chỉnh sửa tập thể theo ý cấp trên. Nhiều khi đầu bài đã ra rồi, Nghị quyết đã chuẩn bị rồi, cứ thế mà làm. Phản biện mạnh chỉ là các nhà khoa học, sau đó mọi thứ vẫn thực hiện. Làm sao mà dừng được…

Khó học lắm!

Thưa ông, trước khi quyết định một chính sách, chương trình lớn chúng ta đều tham khảo học hỏi kinh nghiệm từ nước ngoài. Như vậy là có tính toán rất kỹ. Nhưng tại sao chúng ta vẫn chưa tạo ra mô hình chuẩn?

Mô hình, đường hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới thì nhiều lắm. Tôi ví dụ: Nhật Bản là một nước công nghiệp, nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới, vậy mà một năm vẫn phải nhập siêu hàng hóa nông nghiệp 47 tỷ USD, còn Hà Lan là quốc gia giàu có, cũng có nền công nghiệp hiện đại, với 16 triệu dân lại xuất siêu hàng hóa sản phẩm nông nghiệp trị giá mỗi năm 17 tỷ USD. Hai đường lối, tư duy phát triển KT-XH, hai chính sách phát triển nông nghiệp khác nhau, đẻ ra nền nông nghiệp khác nhau. Ta học được gì ở các nước đó? Khó học lắm, xuất phát điểm của ta thấp, văn hóa tiểu nông đè nặng, kìm hãm không thể tạo đột phá lớn, tìm ra chính sách đúng để giải quyết các vấn đề nông nghiệp nông thôn chúng ta cần. Do vậy, vẫn cứ là thử nghiệm...

Vậy là ruộng đồng và nông dân được đưa ra làm thí nghiệm?

Có dự án, chính sách KT-XH nào muốn triển khai mà không phải trải qua thực tiễn? Bây giờ nhìn lại tôi thấy, nhiều dự án chưa đủ độ chín, chưa phản biện rõ ràng, không nên đem ra cổ súy đại trà, nếu không sẽ mắc sai lầm ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã hội nông thôn. Nhiều chính sách chúng ta đặt ra tưởng là giúp nông dân, thương nông dân, nhưng nếu không tính toán kỹ thì...

Phải chăng, các cuộc “cách mạng ruộng đồng” của ta trong những năm qua vẫn chưa đủ tầm?

Nên nhớ xuất phát điểm nông nghiệp của Việt Nam trước những năm 1980, nông dân không đủ ăn, Chính phủ luôn phải đi “đong gạo” về cho dân ăn. Khoán 10 sau đó là Chỉ thị 100 trong nông nghiệp của Ban Bí thư là cuộc cách mạng mà toàn dân đã được rất nhiều đấy chứ. Việc trao quyền tự chủ cho nông dân từ kinh tế tập trung mệnh lệnh, để họ tự quyết định ruộng đất trồng gì cấy gì... thúc đẩy quá trình gắn bó ruộng đất của nông dân.

Nhưng sau đó, cần phải có chính sách dài hơi, có tầm hơn, thì chúng ta chưa làm được. Cách làm như nông nghiệp Hà Lan là một gợi ý, không có đất để làm nông nghiệp, họ đã quai đê lấn biển và lựa chọn bước đi thành công tiếp theo. Còn ta? Có đủ các vùng sinh thái để phát triển Nông - Lâm - Ngư nghiệp sao mãi không “ngoi” lên được? Tư chất người nông dân Việt Nam đâu có kém họ? Nhưng không có đột phá từ lựa chọn đúng thì không thể giải quyết thấu đáo vấn đề nông nghiệp - nông thôn. Không giải quyết hệ thống, kèm theo đột phá lớn, đúng lúc trong nông nghiệp thì không bao giờ mong Nông nghiệp - nông thôn - Nông dân khá giả toàn diện được. Một đời lãnh đạo chỉ nên tham vọng làm được một vài cái lớn, cái đột phá cho nhân dân được nhờ cụ thể, còn nên để đời khác làm. Đời bí thư, Chủ tịch tỉnh, thành nào cũng vậy thôi.

Ông cho rằng, đừng nghĩ làm nông nghiệp là đồng nghĩa với nghèo khổ nhưng từ xã hội và trong Văn kiện Đại hội Đảng cũng đã nêu: Chỉ có phát triển công nghiệp, đất nước mới giàu có?

Từ những kinh nghiệm định hướng phát triển nông nghiệp của các quốc gia phát triển như tôi đã nói, chính mô hình của họ dã chứng minh: Nông nghiệp không đồng nghĩa với nghèo khổ, nông dân không phải công nhân loại hai 2, không nên coi và xếp họ vào hàng thấp kém trên xã hội. Hà Lan trước khi phát triển trở thành quốc gia nông nghiệp hàng hoá hàng đầu như hiện nay, đặc biệt là mặt hàng hóa nổi tiếng như hoa xuất khẩu, đại mạch - hương liệu làm bia bán cho cả thế giới… cũng phải nhập khẩu từ Pháp, Bỉ các sản phẩm nông nghiệp đấy chứ. Bây giờ thì cả thế giới biết rồi, Hà Lan là nước phát triển đều cả công nghiệp và nông nghiệp, với hàng chục tỷ USD thu được hàng năm, có 10/12 mặt hàng nông nghiệp thứ nhì thế giới. Ai bảo làm nông nghiệp nghèo? Nghèo chẳng qua vì cái cái đầu mà thôi.

Mô hình nào?

Chúng ta đang nói và bàn quá nhiều mô hình rồi tới đây sẽ quyết cái nào đây thưa ông?

Quyết là quyền của của Trung ương, thời nào cũng vậy. Tôi nói mô hình Hà Lan, có thể là một gợi ý để suy ngẫm về cách làm của một quốc gia, và ý kiến này là của một người nông dân Nguyên Công Tạn, chứ không phải ông Bộ trưởng, Phó thủ tướng ngày nào. Với Nhật Bản, Hàn Quốc tôi nói thật, không học được và không nên học, bởi họ định hướng phát triển công nghiệp chế tạo- và xác định sống bằng công nghiệp công nghệ cao, 90% xuất khẩu ra các nước trên thế giới. Vị trí xuất phát điểm của họ, nói là có nét tương đồng nông nghiệp - nông thôn Việt Nam, nhưng là từ thế kỷ 18-19 rồi. Anh phải lo cho dân tộc anh mấy trăm năm sau, bằng tầm nhìn, độ nhạy bén của chính sách riêng biệt, có tham khảo kinh nghiệm, và không thể ngồi nghiên cứu, dập khuôn là nên học Nhật Bản hay Trung Quốc được...

Nhưng không làm, sao biết thực tiễn đúng hay sai?

Đó là ý hay đấy. Không triển khai thực hiện rất khó định liệu đúng hay sai, bởi thực tiễn luôn vận động. Nhưng tôi cho rằng mọi quyết sách cần phải có tầm. Tầm nhìn lâu dài, không chỉ đến 2020 mà còn xuyên suốt cả trăm năm. Hà Lan, Mỹ, Nhật Bản là những khảo nghiệm tốt để ta học hỏi những gì có thể áp dụng phù hợp với ta hiện nay, nhưng không phải là tất cả. Hãy chuẩn bị cho mình hành trang xuyên thế kỷ, từng lộ trình một, không vội vá cắt khúc nếu không anh tự tạo sức ép cho chính anh. Quá trình làm lãnh đạo lâu năm, bây giờ về nghỉ, tôi nghiệm thấy câu: “Mỗi đời lãnh đạo lâu năm chỉ cần tham vọng làm được 1-2 vấn đề (đúng), là tốt lắm rồi”. Còn lại để những người sau làm, và phải mở hướng kế thừa cho họ

Tương lai là miền núi

Vậy, theo ông giải quyết vấn đề nông nghiệp- nông thôn tới đây nên như thế nào?

Đây là câu hỏi khó trả lời chính xác. Cá nhân tôi cho rằng, ngoài việc tập trung đầu tư lớn cho nông nghiệp - nông thôn hai vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng. Cần đầu tư tạo đột phá khu vực miền núi. Với khu vực đồng bằng cần nhìn nhận ra sai lầm trong các chính sách vừa qua, đánh giá đúng cái gì được, cái gì không.

Ý ông là chuyển trọng tâm sang miền núi?

Quan điểm của tôi đồng thời giải quyết các vấn đề cấp bách của hai vùng đồng bằng, ta nên dịch chuyển đầu tư lên khu vực miền núi. Trước mắt, đây vẫn là vùng có nhóm người nghèo khó nhất, sống chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp. Nhưng về lâu dài khoảng mười lăm hai mươi năm nữa, hãy suy nghĩ nghiêm túc khi đồng bằng bị nước biển xâm lấn chúng ta lấy đâu chỗ dựa? Đó chính là một dải vùng núi rộng lớn và đang còn rất thưa thớt. Đó phải là chỗ dựa của gần trăm triệu con người khi đối mặt với biến đổi khí hậu. Nhưng không thể để “nước đến chân mới nhảy”, buộc phải di dân lên một vùng đất quá khó khăn và thiếu thốn được. Và vì thế, vùng núi còn phải là chỗ dựa cả về tiềm lực kinh tế, là nền tảng để phát triển lâu dài. Muốn thế, phải giải bài toán kinh tế từ bây giờ. Không có cách nào khác, chúng ta phải chuyển dịch đầu tư và phát triển kinh tế cho miền núi ngay hôm nay.

Sẽ như thế nào thưa ông?

Cha ông tổ tiên ta từng nói: Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền. Đồi núi của ta vẫn nhiều, chỉ sau biển. Tài nguyên nông lâm nghiệp của Việt Nam đều dồn ở khu vực miền núi cả. Do vậy cần giải quyết 2 vấn đề: Một, đất đai khu vực miền núi nhiều thế chúng ta qui hoạch sử dụng như thế nào trong hàng chục năm qua? Nhiều đời lãnh đạo đã nói: Để miền núi tiến kịp miền xuôi. Đúng về chủ trương, nhưng lại không đúng về chính sách. Bởi chính sách chưa phù hợp, chưa khuyến khích khích, đầu tư dàn trải, manh mún. Đây cũng là “khoảng trống” của nhiều đời lãnh đạo chưa tìm ra lời giải nên cần cái tài của những thế hệ bây giờ. Hai, đây là lĩnh vực khó, do đặc thù địa lý đất đai, dốc lớn, tư duy đa phần chỉ biết khai thác, thậm chí là phá nhiều hơn trồng, trình độ học vấn của đồng bào các dân tộc thiểu số nữa, đang ngăn cản họ vươn lên... Do vậy, tạo đột phá phải từ chính sách khuyến khích ưu đãi cụ thể lôi kéo các doanh nghiệp trong và ngoài nước lên vùng đó. Để có thể thành công phải đưa người miền xuôi lên cùng bà con dân tộc vùng cao lập nghiệp. Kinh nghiệm của hơn 40 mươi năm về nước cho thấy: Đồng bào dưới xuôi lên vùng cao xây dựng vùng kinh tế mới, họ đều không nghèo, chưa nói là có một bộ phận lớn kinh tế gia đình khá giả lên. Bài học đó có thể thấy ở Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái....

Đừng chỉ kêu gọi suông

Thưa ông, chúng ta đang thiếu chính sách khuyến khích hay chính sách khuyến khích chưa đủ tầm?

Chính sách khuyến khích họ chưa đủ tầm thì đúng hơn. Hiện có nhiều doanh nghiệp tiến lên vùng cao, đầu tư trồng rừng, phát triền cây lâm nghiệp. Nhưng họ phải lo lợi ích của chính họ trước. Do vậy cần có chính sách cụ thể ưu đái về đất đai, thuế má... Tóm lại là phải cực kỳ hấp dẫn ổn định, chúng ta tạo cơ chế cho họ lên và đứng chân phát triển. Còn doanh nghiệp làm gì, làm như thế nào thì hãy để cho họ tự quyết định.

Câu hỏi cuối, từ kinh nghiệm của mình, ông đúc kết được những gì về công tác lãnh đạo?

…(suy ngẫm rất lâu). Làm lãnh đạo khó lắm. Anh biết trong đầu nhiều vị Bí thư, Chủ tịch UBND các tỉnh/ thành hiện nay suy nghĩ gì không: “Làm nông nghiệp thì cực, làm công nghiệp thì ngon ăn hơn, lại đúng định hướng Nghị quyết Đảng bộ tỉnh đề ra. Như tôi đã nói ở trước, khi Nghị quyết đã ra, “xuống” đến cơ sở rồi, đố anh nào dám làm sai. Ông Kim Ngọc ở Vĩnh Phúc nhũng năm l960 chỉ là ngoại lệ thôi. Do vậy, tôi cho rằng, tới đây, ngay cả khi chúng ta có một nghị quyết lớn về Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn (Nghị quyết Tam Nông, Trung ương 7, khóa 10, tháng 8/2008), quan trọng vẫn là cách làm, cách triển khai. Không nên dập theo khuôn mẫu hay định hướng một cách nóng vội được. Vậy thì muốn đúng, cần phải vận dụng sáng tạo, tùy theo thực tế của địa phương mình, lại còn phải nắm được tình hình thay đổi ở các quốc gia trong khu vực nữa. Tôi sợ nhất là tư duy bảo sao làm vậy, giáo điều dập khuôn, chưa làm đã sợ sai.

Xin cảm ơn ông!

Trong đầu nhiều vị hiện nay suy nghĩ: “Làm nông nghiệp thì cực, làm công nghiệp thì ngon ăn hơn, lại đúng nghị quyết đảng bộ tỉnh đề ra”

Bây giờ làm các kế hoạch lớn hay các chương trình phát triển kinh tế phải tuyệt đối không được để dân phải chịu thiệt khi làm thí nghiệm. Các kế hoạch nếu có thành công thì nhân dân được lợi nhưng nếu thất bại phải đền bù cho nhân dân.

Nguyên Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ NN – PTNN Nguyễn Công Tạn
Nguyên Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ NN – PTNN Nguyễn Công Tạn
 
ChúngTa.com @ Facebook
 
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,