Thượng Đế là ai? (phần 1)

Nguyễn Hoàng ĐứcÝ hướng tính văn chương, NXB Văn hóa dân tộc
06:09' CH - Thứ tư, 17/12/2008
I. VÀI LỜI CÙNG BẠN ĐỌC

Bạn đọc thân mến, Thượng Đế là một đề tài lớn, thậm chí lớn nhất, chính thế mà tôi muốn có đôi lời muốn chia xẻ với bạn đọc. Tất nhiên, đề tài Thượng Đế ở đây là một đề tài thần học chứ không không tôn giáo. Hiển nhiên, mỗi chúng ta đều có quyền tín ngưỡng của mình, theo tôn giáo hoặc không theo, theo tôn giáo này hay tôn giáo kia… Nhưng có một thực tế với những cây bút ở ta là, sau một thời gian nổi tiếng hay thành công như sấm gieo chớp giật, hầu hết các tác giả đều mong muốn “cơi nới” tầm vóc của mình, sao cho nó trở thành một lâu đài nguy nga hơn, nhưng dường như là bất khả. Vậy lý do chính là gì?

Khi chúng ta muốn căng một chiếc dù, muốn nó tỏa rộng ra thì ta phải nâng đỉnh chóp càng lên cao thì chiếc dù càng tỏa rộng. Đỉnh chóp đó là gì? Về mặt kiến trúc và tinh thần, đó là đền thờ ở khắp mặt đất này từ Ai Cập đến Ăng Ko Vát , đến châu Âu rồi tận cùng châu Mỹ… Chính triết gia Nietzsche đã thú nhận “Đạo Tin Lành là cha đẻ của triết học Đức”. Có thể nói, tôn giáo, thần học là cha đẻ của triết học, để từ đó triết học là cha đẻ của văn học. Nước Nga là một cường quốc về văn học và nghệ thuật nhưng lại không phải cường quốc về triết học, bởi lẽ người Nga sống thuần hậu hồn nhiên ít đặt vấn đề khúc triết như người Đức, người Pháp. Nhưng văn hào Dostoievski lại trở thành nhà văn đồ sộ tiên phong bậc đệ nhất thế giơí với tiểu thuyết “Anh em nhà Ca-ra-ma-dốp” với đề tài thần học. Mà đề tài đó ông dựa vào đâu? Ông dựa vào thế mạnh truyền thống của đạo Chính thống Nga…

Tôn giáo là định mệnh của khoa học, đó là một phương ngôn nổi tiếng thế giới, bởi khoa học chỉ xuất hiện và tiến triển khi người ta muốn cầm ngọn đèn soi vào thế giới huyền bí của tôn giáo, điều này đã được cả Newton và Einstein tuyên ngôn trong sự nghiệp của mình.

Trong thực tế, khi các đoàn xuất khẩu lao động Việt Nam sang I rắc làm ăn, dân bản địa hỏi “anh theo tôn giáo nào”, nhiều người Việt thật thà nói “tôi không theo tôn giáo nào”, thế là người ta lủi không thèm quan hệ với người Việt đó nữa, bởi lẽ trong quan niệm của họ: không theo tôn giáo là kẻ vô thần, không biết sợ ai, không biết sợ cái gì, thì không thể có đạo đức được. Về sau Đại Sứ Quán Việt Nam phải dặn dò những người đến sau là “nếu được hỏi anh theo tôn giáo nào, thì cứ nói là theo Đạo Phật”…

Sách Bách khoa thần học có viết “không có tôn giáo nào dị đoan cả”. Tại sao? Bởi vì tôn giáo nào cũng phải có kinh sách, tức sự lập thuyết, vì thế nó không thể chỉ là thứ dị đoan “thần cây đa ma cây gạo”. Tôn giáo xét khởi nguyên còn là những trường học đầu tiên của loài người…

Theo các chuyên gia, bạn đi đến bất cứ thành phố nào đều thấy có bốn tòa nhà lớn và đẹp nhất:

1- Tòa thị chính, để người ta quản lý điều hành thành phố

2- Trường đại học, để người ta giáo dục những công dan trí thức cho thành phố

3- Nhà hát, để người ta hưởng thụ văn hóa và văn nghệ

4- Nhà thờ, để người ta sinh hoạt và đưa tinh thần đến lý tưởng siêu việt.

Triết gia Hegel nói: “Lịch sử châu Âu là lịch sử của cuộc đối kháng giữa Nhà nước và Nhà thờ, và là lịch sử hòa giải giữa chúng”. Tại sao? Hegel minh giải: “Nhà thờ là những giá trị duy niệm, nhà nước là những giá trị duy sinh”. Cái của Nhà thờ dù có tốt đẹp bao nhiêu cũng chỉ là cầu nguyện mà không phải thực hành; cái của Nhà nước dù có hùng hục làm đến đâu cũng không phải là cái đạt đến lý tưởng duy niệm. Bởi thế hai bên phải soi chiếu cho nhau.

Nếu bạn là tác giả, bạn là một thành phố, thì bạn đã có mấy ngôi nhà nguy nga trong bốn ngôi nhà đó? Chúng ta biết những tài năng của con người liên thông lẫn nhau. Chẳng hạn, người bị điếc lâu ngày sẽ câm, vì miệng liên thông với tai… Có một họa sĩ nói với tôi, anh không hiểu gì về âm nhạc lắm. Thế thì làm sao hội họa của anh có thể tiếp cận cái hiện đại, bởi lẽ một mảng rất lớn của hội họa hiện đại là mang tính nhịp điệu… Còn với nhiều cây bút của chúng ta chưa nói đến các lâu đài lớn, thậm chí vài cái lều ọp ẹp, họ cũng không có đủ… Học chưa xong cấp ba, hầu hết chưa biết ngữ pháp, chưa hiểu khái niệm mệnh đề là gì, thế rồi cứ ào ào tiến lên kiểu “hát hay không bằng hay hát”, tung tẩy viết văn, làm thơ kiểu công-nông-binh… Chính vì lý do này, mà câu hỏi làm sao chúng ta có được nhà văn chuyên nghiệp đã trở thành một thứ vấn nạn vô cùng xa hoa. Còn câu hỏi làm sao chúng ta có được thi hào hoặc văn hào thì xa xôi như một dải ngân hà…

Bạn có muốn khắc phục lối viết văn kiểu “ăn xó mó niêu” không? Muốn khắc phục thì bạn dừng có ngại leo lên đỉnh non cao nhất của loài người, đó chính là đề tài Thượng Đế. Chính các triết gia và văn hào thế giới đã nói “Chủ nghĩa nhân văn châu Âu chủ yếu được kế thừa bởi tinh thần Ki-tô giáo”.

Đứng trước một Thượng Đế toàn năng vô tận, ai ai cũng trở thành nhỏ bé (cả tôi cũng không thể mơ là một ngoại lệ), vậy những lời nói thẳng mang tính hiện thực của tôi, mong bạn đừng coi đó như cái gì phách lối. Mà chúng ta hãy nhanh chóng bỏ qua lối cào gãi đó để tìm đến đỉnh chóp cho chiếc dù trong nhận thức của chúng ta.

Cám ơn nhiều!

*

- I-van có Chúa hay không có Chúa? Fê-ô-đô hỏi con mình.

- Không có Chúa! I- van đáp.

Fê-ô-đô quay sang hỏi con út của mình:

- A-li-ô-sa, có Chúa hay không có Chúa?

- Có Chúa! A-li-ô-sa đáp.

- I-van, có cái tuyệt đối không? Fê-ô-đô hỏi.

- Không có cái tuyệt đối! I-van đáp.

- Có cái tuyệt đối không? A-li-ô-sa!

- Có cái tuyệt đối!

- Cái tuyệt đối nằm ở đâu?

- Cái tuyệt đối nằm ở Chúa! A-li-ô-sa khẳng định.

- Fê-ô-đô than thở rằng: - Trời ơi! Có Chúa hay không có Chúa? Tại sao câu hỏi đó cứ ám ảnh nhân loại đến cả nghìn năm nay? Ai sẽ biết có Chúa hay không?

Có quỉ mà biết được! I-van bảo.

Quỉ ư! – Fê-ô-đô thốt lên. - Quỉ ở đâu, sao ngươi không hiện ra đến một lần để nói rẳng: Có Chúa hay không?

Chà! Cả quỉ cũng không có nốt! – I-van kêu.

Trời! Fê-ô-đô thất vọng.

Đoạn văn trên được trích lược trong phần đầu của tác phẩm “Anh em nhà Caramadốp” nổi tiếng của F.Dostoevski (trích theo lời thoại trong phim để dễ hiểu và chú mục hơn). Nó bày tỏ nỗi ám ảnh trăn trở đến nhức nhối của con người trong kiếp sống. Một kiếp sống, ở đó Thiên Chúa luôn luôn giấu mặt! hoặc nếu không, thì kiếp sống đó cũng trần đầy những màn sương bí nhiệm giăng mắc tứ bề! hoặc giả nếu những màn sương đó cũng chẳng có ở đời, thì con người vẫn bị xoay vần đến thống khổ trong vấn nạn tra hỏi về nguồn gốc của mình. Dostoievski trở nên nổi tiếng và là người vượt lên đi tiên phong trên văn chương là do xung kích xông xáo vào lãnh địa thần học. Một lãnh địa đầy gian nan trắc trở, mà trước Dostoievski hầu như nó chỉ là mảnh đất riêng có của mấy triết gia và thần học gia. Dostoievski nói: “Đức Chúa trời đã khuây khuất tôi trọn cả đời”.

Vậy Thiên Chúa của Dostoievski có phải là một nhân vật chính nằm lẫn giữa hằng hà sa số những khuôn mặt các nhân vật được nhà văn tạo dụng nên? Thiên Chúa là sản phẩm của tưởng tượng? Ngài là một thực tại? Ngài là gì khác? Hay ngài chẳng là gì cả?

Ai trong chúng ta dám xác nhận một trong những câu hỏi trên, và ai sẽ là người phản bác nó? May mắn thay! Hay bất hạnh thay! Thiên Chúa luôn luôn vắng mặt trong cuộc cãi cọ của con người về sự có mặt của Ngài. Và sự vắng mặt của Thiên Chúa là mảnh đất dung thân bao dung vô tận, ở đó mọi người đều có thể ca lên lời xưng tụng Ngài, hoặc cũng toàn quyền lớn tiếng phản bác Ngài. Đâu là lời chung kết tối hậu về việc Ngài là Đấng có! Vậy Ngài là “kẻ” nhút nhát, lãnh cảm hay bao dung đến độ chẳng cần xía vào trò chơi của bọn trẻ làm gì? Ngài để cho những đứa bé của Ngài được tự do. Tự do sống! Tự do suy tưởng! Tự do đặt vấn nạn! và tự do giải đáp câu hỏi của mình!

Ngài có hay không khi mà chẳng bao giờ Ngài có mặt?

Trong câu chuyện về Thiên Chúa, một người mọi châu Phi đáp lại câu hỏi “Ông có nhìn thấy Chúa không mà tin?” của một học giả Châu Âu rằng: “Tôi tin Chúa nhưng chẳng cần nhìn thấy Ngài, giống như buổi sáng ra tôi nhìn thấy những vết chân trên sa mạc, và tôi chắc tin rằng có một con lạc đà đã đi qua đây trong đêm”. Nào, bây giờ chúng ta hãy thử nhìn những vết chân của Chúa dưới trần gian.

“Không một quốc gia nào phi tôn giáo, và cũng chẳng có quốc gia nào hằng tồn mà không có tôn giáo” (H. L. Mencken ‘A New Dictionary of Quotations’, - NDQ).

Đến đây có thể rất nhiều người trong chúng ta muốn gào vào mặt tôi rằng: Này, gã kia, chúng ta muốn một Thượng Đế sống thực, chứ không phải thứ Thượng Đế bằng chữ nghĩa. Vả lại, ngươi chớ dở trò tháu cáy ngôn từ lừa bịp bọn ta! Chúng ta thừa biết rằng, tất cả những đền đài trên mặt đất này được dựng lên từ con người, chứ không phải từ dấu chân lạc đà “Thượng Đế” của ngươi. Ngươi hãy mở mắt ra!

Những lời phản kháng trên có lý không? Chắc hẳn là như thế, và nếu không có lý thì nó cũng tràn đầy cái không khí khả giác trân trối không thể nào cưỡng nổi. Song còn một khía cạnh khác, thị giác khả chứng nhưng không phải là tất cả, nó chỉ là tháp canh ở phía ngoài tòa lâu đài, còn cái quyết định lại là bộ tham mưu khả tri ở phía trong tòa lâu dài – mà bộ tham mưu này tự thân có chẳng nhìn thấy gì ngoài bốn bức tường bao quanh nó. Bởi vậy, khi chúng ta chối bỏ sự có mặt của Thiên Chúa là chối bỏ một Thiên Chúa khả giác hay khi một Thiên Chúa khả tri? Để tìm đến một kết luận xác đáng, chúng ta chắc hẳn phải lần theo cả hai ngả đường, giống như một viên tướng giỏi thì dụng binh ở tất cả các hướng chính diện và vu hồi. Vả lại, khi khước từ thượng Đế một cách mau lẹ, nhiều người trong chúng ta thường quan niệm rằng, đó là đường lối triệt để mong gạt bỏ thành kiến thiên vị Thượng Đế, Ông được tôn xưng, thiên vị quá nhiều rồi! Và bây giờ, tôi muốn tức khắc một lần cho tất cả phản bác Ông đi! Đấy, (có thể) hiển nhiên bạn cho là con đường rốt ráo nhất, triệt để nhất! Nhưng thưa bạn, đó cũng là con đường lầm lạc rốt ráo nhất! Tại sao vậy? Thưa bạn, Thượng Đế, Ngài làm gì có mặt để uống lấy tình cảm thiên vị của chúng ta. Bởi vậy, khi bạn bài trừ sự thiên vị, là bạn đặt sự xem xét của chúng ta vào một định kiến khác có lẽ cũng chẳng kém thiên vị là bao. Muốn đi tới chân lý, chúng ta phải đi tới bằng con đường toàn diện, muốn vậy trước hết hãy phá chấp đi!

2. BẤT KHẢ KHƯỚC TỪ VẤN ĐỀ THƯỢNG ĐẾ

Thượng Đế, khi ta hỏi Ngài có hay không? Ta đã giả sử là Ngài có!

Câu nói của một triết gia đẩy chúng ta vào một nỗi éo le khó mà vượt thoát. Và bây giờ nếu bạn muốn nhìn thấy Thiên Chúa, bạn phải tháo gỡ nỗi éo le đó bằng cách đánh giá toàn bộ những nút thắt bùng nhùng của nó. Ở cả hai đằng, bạn đều phải xem xét kỹ lưỡng mê cung éo le đó. Có phải vết chân đầu tiên của Thiên Chúa là:

Chính nỗi sợ hãi khởi đầu đã du nhập thánh thần vào trần gian” (Sđ d ‘NDQ’).

Có đúng vậy không? Liệu chúng ta có phủ bác được nỗi sợ hãi của mình nằm thẳm sâu trong tâm can, trong kinh nghiệm, hay trong suốt dòng lịch sử đầy hoang mang chém giết để giành bạo lực? Có phải nỗi sợ hãi có mặt ở khắp nơi? Nó hóa thân thành Thượng Đế “ma gà ma xó” của người thiểu số, nó biến thành Trời của người Trung Hoa, nó đắc chính quả thành Boudha của người Ấn Độ, nó đóng đanh trên thập giá thành Jê-su của người I-xra-en, và nó tiên tri thành một Mohamed của người Trung Đông?

Nỗi sợ hãi có thật! Nhưng nó ở đâu? Trong tâm hồn run rẩy yếu ớt của chúng ta hay ở môi trường tự nhiên: sấm nổ, chớp lóe, cầu vồng sáng rực, bóng đêm u ám, giông tố phong ba hay hỏa diệm sơn phun lửa…? Để thỏa mãn được cật vấn này, có lẽ tốt hơn cả là chúng ta hãy trở lại cái cảm xúc của ông hoàng thuyết tương đối, thủ lĩnh tiền phong của khoa học, người mà những giọt máu thiên vị Thượng Đế đã được tẩy trừ một cách tối đa nhất, Einstein nói: “Cảm xúc đẹp nhất mà con người có thể có được là cảm xúc thần bí. Nó chính là mầm của nghệ thuật và mọi khoa học chân chính.”

Câu nói của Einstein không chỉ phụng hiến cho ta cái vẻ đẹp run rẩy của cảm xúc thần bí mà còn đem lại một bằng chứng rằng: nỗi sợ hãi là của chủ thể con người, nhưng nó đã rung lên tiếng tơ lòng cực kỳ nhạy cảm vi diệu với niềm xao xuyến bao la của vũ trụ, nó là phó bản, là nỗi cảm thông của vũ trụ. Và bởi vậy khi tâm hồn nhạy cảm run rẩy mặc dù có bị nỗi sợ hãi phơi áo sự nhút nhát của mình, thì nó cũng chẳng thể bị dè bỉu khinh thị. Bạn hãy nhìn cây liễu ven hồ, có phải nó đẹp vì đang run rẩy trước gió? Và có phải chính bởi cái bản thể ẽo ợt dễ lay động của mình, nó đã trở nên nhân tình khăng khít của gió trong từng gang tấc? Nó đã cảm thông với gió vẹn toàn! Đó cũng là bản tính của linh hồn! Linh hồn vô cùng nhạy cảm và vi diệu bởi vậy chỉ có nó mới thông thiên được với toàn thể vũ trụ. Và cũng chỉ có nó mới có khả năng thổi sinh khí vào giữa các vật thể và có khả năng tiên tri được cuộc sinh tồn sống còn của vật thể.

Bởi vậy nỗi sợ hãi không chỉ nằm trong thế giới thực tại, mà nó còn nằm ngay trong bản chất của linh hồn. Linh hồn không nghĩ được ra sợ hãi cũng như nước không nghĩ được ra sóng, mà chính sóng có mặt cùng một trật với nước. Sóng là một thuộc tính đồng có mặt bất khả tách dời hủy diệt của nước.

Để khai triển tiếp nguồn cảm xúc của Einstein, chúng ta hãy cùng Jean-T-Desanti nhảy tiếp một bước nữa, ông nói: “Tinh thần quỉ thuật là người thầy của nhân loại, là diễn viên của lịch sử, là kẻ sáng tạo của nghệ thuật và khoa học.”

Chúng ta hãy xem:

Có môn thần học nào không nhắm đến Thượng Đế? Có môn triết học nào không tìm cách lý giải Thượng Đế? Có môn khoa học nào không cóp nhặt thêm những bằng chứng để sói lở chân móng của Thượng Đế? Có môn nghệ thuật nào thoát khỏi nỗi ám ảnh kỳ vĩ và bí nhiệm của Thượng Đế? Nhiều nhà sử học và xã hội học đã đồng thốt lên một thực tại ngộp thở rằng: “Bằng tín ngưỡng của mình, con người đã xây lên những đền thánh đẹp nhất thế giới.”

Bạn có chối bỏ được những ngọn tháp sừng sững ở Ai Cập cho đến ngày nay vẫn còn nguyên vẻ huyền bí trước những ống kính tọc mạch xông xáo của khoa học? Bạn có chối bỏ được đền thánh Vatican, nơi hội tụ đông đặc trên từng viên gạch, từng centimet tín ngưỡng của các thiên tài lỗi lạc như Raphael, Michelangelo, và Leonardo da Vinci? Nhà thờ Đức Bà Paris đã trở nên bất hủ trên các trang sách của thiên tài Victor Hugo? Và còn nhiều lắm những đền thờ Hồi giáo, những chùa chiền Phật giáo, bạn có chối bỏ được không?

Chúng ta hãy trở lại câu hỏi rằng: liệu có phải Thượng Đế chỉ là một nhân vật làm duyên nỗi ám ảnh trong các tác phẩm của Dostoievski? Không! Thượng Đế không bao giờ là vậy. Nếu Ngài có là một nhân vật thì đó là một nhân vật của nhân loại. Và nhân vật đó sẽ thủ vai trọn tấn tuồng của lịch sử. Bạn có thể khước từ việc có mặt của Thượng Đế, nhưng bạn không thể khước từ vấn đề Thượng Đế. Đó là một thực tại! Một thực tại tràn đi khắp hành tinh bằng linh hồn tôn giáo. Franz Boas nói:

Không có bộ lạc nào trên thế giới mà những hoạt động tôn giáo lại không trở thành đề tài tư tưởng”.

3. CON NGƯỜI LÀ QUỈ HAY CỖ MÁY

Bạn có thể chối bỏ được tư tưởng của mình không? Có chối bỏ được linh hồn của mình không? Và có chối bỏ được việc linh hồn đã tự vun xới ra hoa và thành qủa: vấn đề Thượng Đế? Đến đây liệu đã đến lúc tôi ngỗ ngược rú lên : các người không thể chối từ được linh hồn, thì các người cũng không thể chối từ được Thượng Đế, Ngài là thuộc tính tất yếu của linh hồn? Và để khải hoàn cho thứ linh hồn lồng lộng được che chở bằng cái bóng độc tôn đồ sộ của Ngài, một vị giám mục đã hò xướng: “Chúc phúc cho những khẩu trọng pháo, miễn là trong lỗ thủng do chúng phá, phúc âm nảy nở”.

Nào có phải đã đến lúc những tín đồ linh hồn bật sâm banh hò reo quanh những tiếng gầm của khẩu trọng pháo “Phúc Âm” đang khai hỏa tứ phía? Vâng! Họ có lý để ban thưởng cho mình. Chẳng phải khẩu trọng pháo của họ đã trùm lửa linh thánh lên I-xơ-ra-en, nó bắn qua Địa Trung Hải trùm lửa xuống châu Âu, một khẩu trọng pháo khác được đặt tên là “Thập tự chinh” đã quay ngược nòng gieo lửa xuống cả phương Đông, rồi pháo đẻ ra pháo, lửa lây lan thành lửa, và ngọn lửa thánh linh đang có cơ liếm gọn cả hành tinh.

Nhưng một bức tường đồ sộ đã hiện ra, nó hiện ra vào đúng lúc những nút chai sâm banh chưa kịp bật nổ. Nó là tâm trí: một đứa con ngỗ ngược khó bảo của tâm linh. Tâm linh, một gã làm bố lúc nào cũng khơi vơi ngất ngưởng trong cơn khát men say tín ngưỡng đến si dại thì làm sao có thể hãm được đôi chân lảo đảo của nó trước miệng vực thẳm. Và chính tâm trí đã hãm đôi chân đó lại, rồi sau đó, đến lượt mình tâm trí muốn xây cất thời đại của nó bằng một tâm thức sáng suốt đã thức tỉnh. Chúng ta thử nhìn xem, những khẩu trọng pháo Phúc Âm đã im tiếng thế nào: “Giáo hội mất giới trí thức ở thế kỷ 20 cũng như đánh mất giới thợ thuyền ở thế kỷ 19”.

Đó là một lời thú nhận đắng cay của một tín đồ Ki-tô giáo. Và như một cơn giông tố dù có dữ dội thế nào cũng phải tan đi, luồng gió thánh linh dường như đang trở nên suy vi. Và nó càng trở nên tàn tạ hơn khi vướng phải lời tuyên cáo đanh thép của Karl Marx: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.

Chúng ta quá biết, niềm vui dễ lây lan, nỗi buồn càng dễ lây nhiễm nỗi buồn thổn thức của nó sang những trái tim đồng cảm. Còn cơn nghiền? Nó vừa dễ lây truyền bằng cơn gây tê man dại của tinh thần vừa áp chế hệ thần kinh của thân xác bằng phép áp đặt sự truyền dẫn tiêm trích lên máu thịt. Nghĩa là mo-óc phin là độc tố gây nô lệ hóa con người. Chúng ta chối bỏ thứ độc tố đã sờ sờ ra đấy chất doping kém vẻ mã thượng và ám hại của nó. Song tôn giáo có phải là vậy không? Có một thực tại vừa tràn qua mắt chúng ta, và nó còn đọng lại đấy, đó là: cả Mỹ và Liên Xô đều bị “phơi áo” và bó tay trước những thách thức của phong trào Hồi giáo.

Tại sao vậy? Có phải họ đã đơn giản hóa vấn đề tôn giáo bằng một nhãn quan của các chính khách? Để hiểu thêm ý tưởng này, chúng ta thử tham chiếu ý tưởng của Jose Bergamin: “Có hai loại người! Loại uống rượu vào thì ngủ say và loại người uống rượu vào thì tỉnh táo, một loại rượu làm cho u mê, còn loại kia rượu kích thích thêm sáng suốt. Đối với một dân tộc, tôn giáo không phải là thuốc phiện nhưng có thể là rượu. Tôn giáo có thể làm cho một dân tộc ngủ li bì nhưng tôn giáo có thể thức tỉnh dân tộc khác và kích thích cho hết mê ngủ.”

Nhưng cách nói thuốc phiện hay rượu thiên về lối định nghĩa vấn đề theo nhãn quan chính trị. Còn ở đây chúng ta đang trả lời vấn nạn Thượng Đế bằng một nhãn quan toàn thể, và trước tiên chúng ta hãy đi theo con đường của mình bằng chiếc gậy dò đường: Hữu thể luận. Cả hai lối nói ẩn dụ trên đều gây cho chúng ta tin tưởng rằng linh hồn có đồ ăn thức uống của nó, đó là thuốc phiện và rượu.

Nhưng trong vấn đề Thượng Đế, linh hồn đã uống lấy cơn khát Thượng Đế, trong khi đó Thượng Đế chẳng là gì cả. Thượng Đế là một sản phẩm đeo dính trong linh hồn, và muốn phá bỏ Thượng Đế thì phải phá bỏ tự căn để chất keo dính chặt linh hồn. Giả dụ, khi chúng ta muốn phá bỏ nhà thổ để cứu vãn đức hạnh của những cô gái cơ nhỡ ở trần gian này thì chúng ta tháo dỡ nóc nhà thổ hay là triệt phá tự căn để lòng tà dục của các qúi ông mày râu nhẵn nhụi?

Vậy, thưa quí ngài, chúng ta hãy tàn phá linh hồn “tà đạo” của mình đi, tức khắc Thượng Đế phải tiêu vong. Quí ngài hãy nhìn đây lưỡi kéo của Sartre đưa ra cắt lấy hình ảnh của Thượng Đế: “Thiên Chúa là một giả thuyết vô ích và chúng ta đã phải trả giá quá đắt. Chúng ta hãy loại bỏ giả thuyết ấy đi.”

Quí ngài thử nghĩ xem, linh hồn còn lại gì sau khi lưỡi kéo của Sartre đã lượn lờ một cách vô cùng khéo léo và tinh xảo để lược gỡ đi bóng hình của Thượng Đế xâm lấn nham nhở khắp linh hồn? Và có kỳ lạ không, giống như buồng gan bất lực của Prô-mê-tê cứ tươi rói trở lại sau khi bị mỏ con đại bàng khoét sạch, linh hồn sau khi cắt bỏ vẫn còn nguyên linh hồn. Trước linh hồn mọi lưỡi kéo đều phải bất lực. Nhưng bây giờ chưa phải lúc đi lang thang theo đôi cánh phiêu lãng của linh hồn, chúng ta hãy đi cắt ngang qua đường bay của nó để sà xuống một thực tại. Ryle nói: “Với các nhà duy tâm con người chỉ là một con quỉ trong thực tại, với các nhà duy vật thì con người là một cỗ máy trong thực tại. Con người chẳng bao giờ là một con quỉ hay một cỗ máy. Con người là nhân loại” (John Passmore ‘A Hundred Years of Philosophy’- HYP, Penguin 1968, tr.446).

Bạn định làm gì với câu hỏi về Thượng Đế? Chẳng có cách nào khác bạn phải tìm ra câu trả lời. Một câu trả lời theo đúng cách thức mà câu hỏi đã đưa ra. Còn ngược lại nếu bạn trả lời tra hỏi Thượng Đế bằng một cơ thể đập phá hoảng loạn hay một lưỡi kéo mong cắt tách Thượng đế khỏi linh hồn theo kiểu của Sartre thì Thượng Đế vẫn có đó. Thượng Đế làm gì có mặt để bạn cào xé khuôn mặt của Ngài! Thượng Đế làm gì có hình ảnh để bạn bôi xóa Ngài! Và trong vấn đề này, chúng ta hãy lắng nghe một cách thống thiết thực tại của lịch sử từ miệng một khối núi thần học cận đại lừng lững đầy tâm huyết, Hegel nói: “Lịch sử đương đại được lãnh trị bằng một cuộc đối kháng giữa Nhà thờ và Quốc gia. Nhà thờ đó là nội tại tính, là nhận thức chân lý tuyệt đối. Nhà nước đó là thế giới thực tiễn, lúc đầu nó xa lạ với một nhận thức chân lý một cách sâu sắc. Tất cả lịch sử châu Âu là kết quả của cuộc đối kháng giữa hai nguyên lý này và cuộc hòa giải giữa chúng” (Charles Werner ‘La Philosophie Moderne’ – PM, Payot Paris 1954, 202).

Làm thế nào đây? Bởi lịch sử bất khả khước từ. Vả lại một nhà thơ đã viết:

Tượng thờ dẫu đổ vẫn thiêng

Miếu thờ dù phá vẫn nguyên miếu thờ

Đó có phải là một thực tại không? Làm sao chúng ta có thể chối bỏ được việc tâm linh có như một thực tại, và tâm linh có nơi tụ họp riêng rẽ của nó, và nếu ta có đập bỏ câu lạc bộ của nó, thì tâm linh vẫn còn đó, chúng vẫn qui tụ lại chẳng cần bất cứ vòm mái nào, và tại nơi đó chúng vẫn ngửa cổ nhìn lên ánh sáng của chúng, đó là: Thượng Đế. Cho dù một Thượng Đế có thực hay một tên gọi do chúng đặt cho ánh sáng khiến chúng cứ phải ngước đầu lên. Cũng vậy cả thôi. Và đây là nhãn quan Thượng đế hữu ích của Hoàng đế Napoleon về khía cạnh chính trị: “Một dân tộc không có tôn giáo thì chỉ có thể cai trị bằng súng”.

4. KHÔNG THIÊN CHÚA LÀM SAO CÓ CÁI TIÊN THIÊN?

Chúng ta hãy bỏ lại đó cách nhìn Thiên Chúa của vị Hoàng đế, đối với ngài thì tôn giáo tiện cho việc sử dụng hơn là thỏa thuê cơn khát của tâm linh. Nghĩa là Thượng Đế của ngài phải bị qui ra “thóc”. Chúng ta hãy trở về một Thượng Đế duy linh - một Thượng Đế duy niệm. Có phải Ngài là một giả thuyết vô ích trong và cho linh hồn chúng ta?

Ngài là ai? Có phải Ngài là một thiên đường bánh vẽ được dựng lên để cám dỗ những tâm hồn nhẹ dạ và lười nhác trong cuộc trường chinh dưới thế? Ngài có phải là một hỏa ngục được đốt lên để đe dọa những tâm hồn chết nhát ươn hèn? Ngài có phải nỗi ám ảnh của bóng tối mở buồng phổi tham lam vô tận của mình uống lấy ngọn lửa tinh khiết run rẩy của những ngọn nến nơi thánh đường? Ngài có phải Đấng háo danh chuyên hù dọa những miệng lưỡi xinh xắn để chúng tru lên suốt ngày tiếng lầm rầm xưng tụng Ngài? Vâng! Ngài là ai? Ngài phải là cái gì mới khiến được tâm hồn chúng ta ám ảnh mãi khôn nguôi. Chúng ta thử chiêm ngắm một ý tưởng trong kinh Koran: “Thượng Đế chẳng cần được tán dương, với Người, Người ở trên mọi sự tán dương… Cầu nguyện là thiết yếu cho riêng tinh thần giáo dục của chúng ta, sự an ủi cũng như xác nhận”.

Vâng ! Thượng Đế là một hình bóng chẳng ra dáng nổi một hình bóng, vậy mà cứ khiến linh hồn chúng ta bộn rộn suốt dòng lịch sử. Quả là vô ích! Nhưng nếu không có hình bóng đó thì đâu là ngọn nguồn để linh hồn khao khát tuyệt đối của ta lê lết đến và vục miệng xuống uống? Chúng ta hội tụ nhau ở nơi thánh đường cầu nguyện để làm gì? Bạn là kẻ hành hương khốn khó, bạn có tin rằng sau khi nỉ non cầu nguyện trước tượng Chúa, đôi giầy thủng của bạn sẽ mới lên không? Bạn có tin rằng cơn đói tàn nhẫn đang xâu xé chiếc dạ dầy lép kẹp của bạn vì sợ bóng Chúa, nó trở nên dễ thương hơn? Bạn có tin rằng trước cửa nhà thờ, nơi những ngọn gió bấc đang vung vẩy chiếc roi tê buốt lên đùa nghịch vì sợ âm thanh cầu nguyện của bạn vọng đến tai Thượng Đế, chúng ngưng nghỉ trò chơi lật xới tơi tả đám áo xống mỏng manh rách rưới của bạn?

Không! Sẽ chẳng có gì hết! Nhưng bạn được gì, có phải ở nơi thánh đường nhân danh Chúa, bạn đã quì xuống giữa những con người đang run rẩy thèm khát tình thương và công chính. Chính ở nơi đó trái tim bạn đã hòa nhịp với tha nhân. Và bạn trở gót bước ra giữa gió cuộc đời với một tấm lòng đã nhen lên ngọn lửa ấm áp nhân ái, và một trái tim vọng tưởng miền đất công chính.

Rồi phép lạ đến với bạn không phải từ tay Đấng tối cao, mà chính từ những cánh tay khẳng khiu đã từng quì xuống bên cạnh bạn trao cho bạn một tấm áo ấm, một mẩu bánh mì, và một ổ rơm ấm áp ngả lưng trong đêm trường buốt giá của cuộc đời. Và đến lượt chính bạn, bạn cũng gieo phép lạ, bạn xé một nửa tấm áo, một nửa miếng bánh mà bạn nhận được trao cho ai đó. Vậy đấy, Thượng Đế, Ngài chẳng là gì cả, nhưng là mạch vữa liên đới tình yêu giữa những con người. Kierkegaard đã nói về Thượng Đế như một nỗi éo le quá tủi hờn: “Rơi vào tay Thượng Đế sống thực là một điều khủng khiếp, nhưng còn khủng khiếp hơn nữa nếu ta rơi vào tay sự quên lãng Thượng Đế sống thực.”

Song Thượng Đế không cậy mình là toàn năng-toàn hảo để hiện thân thành những dòng lũ nước mắt da diết nhất. Và nếu Thượng Đế chỉ là nhịp cầu thương xót giữa các tha nhân thì Ngài cũng chỉ chú mục đến nơi cư ngụ nhức nhối nhất của da thịt trần gian: dưỡng đường và trại hủi. Nếu Thượng Đế chỉ là như vậy, Ngài sẽ bước khỏi tâm trí khát khao ánh sáng của chúng ta, bởi con người không chỉ giản lược trong ranh giới thương xót, mà con người còn phải thực hiện những sứ mệnh cao cả hơn của chân lý và công lý, đạo lý và tình yêu. Và Thượng Đế vẫn còn ở với chúng ta khi mà Ngài trở thành chốn cư ngụ bao dung tuyệt đối cho tất cả những linh hồn khao khát siêu việt.

Nhưng chúng ta là những đứa con bướng bỉnh và sáng suốt, chúng ta không muốn tủi hờn bước đi dưới quyền trượng áp chế của Ngài. Hơn nữa chúng ta là tấm gương trần gian nhức nhối ở đó dung nhan của Ngài hiện lên, và chúng ta - những kẻ thừa hưởng dòng máu cao đại, khí phách và khiêm nhường từ nơi Ngài , chúng ta cũng buộc Ngài phải sáng tạo trước mắt chúng ta. Nhưng trước hết chúng ta hãy sáng tạo ra sự sáng suốt của mình. Chúng ta hãy xem xét Ngài. Voltaire nói: “Những chân lý tôn giáo không bao giờ được thấu hiểu một cách đích đáng bởi những kẻ đã đánh mất lý trí”.

Chúng ta không muốn là kẻ đánh mất lý trí. Chúng ta muốn vận động quan năng để xem xét Ngài. Sartre nói: “Nếu Thiên Chúa không hiện hữu thì mọi việc ở đời cũng vẫn thế. Chúng ta sẽ nhận thấy có chừng ấy qui luật thôi: những qui luật về lương thiện, về tiến bộ, về nhân bản thuyết. Do đó chúng ta sẽ làm cho ý niệm về Thiên Chúa trở thành một ý niệm lỗi thời, tự nó âm thầm tịch diệt.”

Đúng không? Không có Thiên Chúa thì mọi việc ở đời vẫn vậy! Người vẫn là người! Nhà vẫn là nhà! Cây vẫn là cây! Lá cờ vẫn là lá cờ! Vâng, lá cờ vẫn là lá cờ, nhưng hãy thử ngắm xem một lá cờ đang bay phần phật, nó tự bay hay phải bay trong gió? Và gió, chính nó có tựu thành một khuôn mặt nào không? Còn cuộc đời của chúng ta vẫn vậy là nó đang đuổi hút theo cái bóng siêu hình nào đó, hay nó vẫn vậy bởi vì chẳng đuổi theo hình bóng nào cả? Tình yêu vẫn vậy, là bởi nó theo đuổi nỗi nhớ nhung dày vò khôn nguôi hay nó chỉ là hiện thân của những vòng tay tạm bợ? Dòng sông vẫn vậy, bởi vì nó đang chảy ra biển hay nó dừng lại? Chúng ta thử nghe tiếng than của Sartre sau khi đã bôi xóa đi hình ảnh của Thiên Chúa:

Thiên Chúa không hiện hữu thì thật rất phiền phức, vì mọi giá trị của cõi trời khả niệm sẽ cùng ta biến đi cùng Thiên Chúa tịch diệt kia. Ta cũng không thể nào còn có những điều thiện tiên thiên nữa, vì làm gì còn có một ý thức vô hạn và hoàn hảo để nghĩ tới những điều thiện đó.


5. MỌI NỀN VĂN MINH ĐỀU BIỂU HIỆN TÔN GIÁO

Để triệt để hơn, để cực đoan hơn, chúng ta hãy tạm bỏ qua những lời dài dòng trên của Sartre, mà chỉ giữ lại lời này thôi “ý thức vô hạn”. Liệu ý thức vô hạn có phải là một đại dương vô bờ bến để dòng sông ý thức của chúng ta miên viễn chảy hoài chảy mãi. Ý thức vô hạn đó có phải miền đất của Thượng Đế? Chúng ta không tránh khỏi ý thức vô hạn, chúng ta sẽ không tránh khỏi sự va đập vào vấn đề Thượng Đế. Đến đây chúng ta hãy giả sử Thượng Đế là một “cuộc chơi” tất định không tránh khỏi của ý thức. Và việc của chúng ta bây giờ là ngắm nhìn cuộc chơi đó có xứng với việc đốt hoài một ngọn nến hay không? Sách Bách khoa thần học viết: “Trước nghệ thuật và tôn giáo con người chia sẻ nỗi tri âm bất khả diễn giải. Trước cả hai thứ con người đều cố gắng phá vỡ biên ải hiện hữu của chính mình” ( Sdd ‘ENC’, A1 tr.885 ).

Phương ngôn trên dẫn chúng ta tới cuộc xung phá “biên ải hiện hữu”. Nó buộc chúng ta phải nhận chân một sự thật rằng: con người là một hữu hạn thể trong không gian và thời gian. Và chẳng có một nỗi khát khao nào không phá cái bờ lũy đang quây lấy nó. Bergson, một triết gia nổi danh trong lĩnh vực trực cảm đã thừa nhận: “Cuối cùng tôn giáo chứa đựng rốt ráo những biểu hiện trí năng trong huyền nhiệm, nó là bước tiếp cận với đà sáng tạo của đời sống”.

Thượng Đế chính là Đấng sáng thế, mà có sự sáng thế nào không mang thai trong huyền nhiệm. Song le chúng ta không vội lao vào màn đêm thăm thẳm bí nhiệm đó. Chúng ta thử theo đuổi thứ chân lý mà Descartes đã vạch ra. Chân lý! Còn gì xứng đáng hơn thế, nó là phần thưởng xứng đáng nhất với trí tuệ hiền minh. Descartes nói: “Chân lý nằm ở bên trong chúng ta, nội dung của nó nằm trong suy tư của chúng ta bởi vậy chúng ta hoàn toàn có thể hiểu nó. Trái lại tầm vóc lớn lao của Thượng Đế nằm ngoài tri thức khả tri của chúng ta. Chính vì thế chúng ta phải phán đoán rằng Ngài còn ngự ở trên chân lý, những chân lý bị đặt dưới quyền năng của Ngài. Thượng Đế là nguyên nhân tương xứng và toàn thể của vạn vật” (Sdd ‘La Philosophie moderne’, tr.82).

Để đánh giá vai trò của tôn giáo, chúng ta sẽ dấn thêm một bước nữa theo gót ông hoàng của vỉa quặng giá trị vị Thượng Đế, Hegel đã lý giải một cách thật thấu đáo vai trò của “ý thức vô hạn” đối với nghệ thuật: “Trong nghệ thật tinh thần nhân loại tiêm tri cuộc khải hoàn trên chất liệu, không thực tại hóa nó mà chỉ thực thi nó trong viễn tưởng, không phải người nghệ sĩ thích hợp một cách ghê gớm với điều đó: thế giới tưởng tượng đối với nghệ sĩ dường như là thế giới thực tại duy nhất, và tác phẩm của anh chứa đựng một nhãn quan thẩm giá riêng rẽ. Xu hướng đó nhắm tới việc chất thể hóa tác phẩm nghệ thuật và tôn sùng nó như một đối vật chứa đựng giá trị nội tại, xu hướng này đặc biệt được biểu giác ở những tác phẩm tối cổ nhưng nó lại rạng sáng ở tất cả các bình diện, nó là nhịp nối liền giữa cảm hứng nghệ sĩ với tôn giáo” (F. Tolin ‘Les Grands Philosophes de l’Occident’, Payot Paris 1951, tr.226 ).

Rút cục Thượng Đế là ai? Có bao giờ bạn phóng mắt ra tận chân trời, bạn thấy gì ở đó? Không có gì cả, mà chỉ có khoảng không mênh mông cuốn hút về hư không. Nhưng chẳng bao giờ bạn ngừng khát khao được rõi mắt ra tận chân trời phóng khoáng, đó là sự thiết yếu của cái nhìn hơn là của chân trời, chân trời chẳng được gì cả, còn đôi mắt đã uống no nê và bồi bổ cho bầu trời của nó. Thượng Đế cũng vậy, ngài chẳng là gì cả nhưng là cõi miền thăm thẳm bao dung uống lấy tất cả đôi cánh của khát vọng, ở đó đôi cánh của khát vọng được thỏa thuê sải đập trong bầu trời đang tự dâng lên lồng lộng mãi mãi chẳng ngừng.

Và để đặt xong hòn gạch cuối cùng của mình nơi chân móng của Thượng Đế, tôi xin dẫn ra đây một câu nói thấm thía của nhà tư tưởng S. Radhakrishnan, mà tôi cho rằng chẳng có gì hiển nhiên hơn thế: “Mỗi nền văn minh là sự biểu hiện của một tôn giáo, vì tôn giáo biểu thị niềm tin vào những giá trị tuyệt đối và một lối sống để thể hiện những giá trị đó.”

Có nền văn minh nào không tự đặt lấy cho mình một giá trị tuyệt đối để theo đuổi?


6. HỮU THỂ LUẬN VỀ THƯỢNG ĐẾ

Đến đây, coi như chúng ta đã đặt xong nền tảng cho vấn đề Thượng Đế. Nó có thể quá cồng kềnh! Xong đó là một việc làm không thể tránh khỏi, bởi lẽ Thượng Đế với cõi bao dung của Ngài sẽ vượt khỏi tầm vóc của mọi nền móng đặt cho Ngài. Và hơn nữa, chẳng có nền móng nào dù đồ sộ đến đâu có thể sánh với chỗ ngồi bé mọn nhất của Ngài. Tuy nhiên đứng trước vấn đề Thượng Đế mênh mông và siêu việt đến ngộp thở, chúng ta buộc phải có một thái độ sửa soạn một cách công phu bề thế nhất. Đó cũng là một hướng đi chính đáng, bởi như người ta thường nói, chuẩn bị tốt là đã thành công phân nửa rồi.

Chúng ta dễ thừa nhận với nhau một thực tại rằng: có vấn đề Thượng Đế. Và bây giờ chúng ta hãy giải quyết vấn đề đó bằng cách kiến giải để chấp nhận hay phi tang nó. Để các bạn tiện theo dõi hơn, tôi xin liệt kê ra đây các chặng đường cuộc hành trình khám phá Thượng Đế. Để giải đáp tra hỏi có Thượng Đế không, tôi sẽ lần lượt đi qua bốn giai đoạn sau:

1- Hữu thể luận về Thượng Đế

2- Tất yếu tâm linh và tín điều

3- Tất yếu thực tại và lý tưởng

4- Cơn khát của tâm hồn

1- HỮU THỂ LUẬN

Malebranche nói: “Thượng Đế là ánh sáng duy nhất của chúng ta”.

Khi tôi nói với các bạn rằng hãy học theo gương của Malebranche, hãy ngửa cổ để uống lấy ánh dương sáng láng của Thượng Đế, chắc hẳn bạn phải phẫn uất lên và và nói: Tôi không thấy thứ ánh sáng đó, vả lại anh định lừa phỉnh tôi à? Thay vì phải chứng minh có Thượng Đế, anh lại tôn vinh Ngài lên ngai vàng dấu mặt của Ngài, và anh bảo chúng tôi hãy uống lấy nguồn ánh sáng không có của Ngài. Nếu các bạn có kêu lên như vậy là hoàn toàn hợp lý, và ở địa vị các bạn tôi cũng réo lên như vậy.

Pascal nói: “Chúa là Đấng ẩn dấu” (Tu es verus absconditus). Hiển nhiên Chúa là Đấng dấu mặt, và chẳng lẽ chúng ta lại chịu bó tay trước việc buộc Ngài, dụ dỗ Ngài, hoặc nài nỉ van xin Ngài xuất hiện lấy một lần. Ngày nay với những ống kính viễn vọng lia quét đến tận các xó xỉnh của bầu trời, kính hiển vi có thể nhìn rõ tâm can của từng chú siêu vi trùng, rồi máy điện toán, máy điện phân, máy vi tính… và hàng trăm dụng cụ tinh xảo đã từng bắt hằng hà sa số những chất khí uẩn khuất dấu mặt trong không gian phải hiện lên, chẳng lẽ lại phải chịu hàng phục trò ú tim đùa dai của Chúa? Liệu Chúa có đang run rẩy trong góc trốn của Ngài?

Triết gia Hamilton nói: “Thượng Đế là phi điều kiện tính, bởi Thượng Đế là bất khả tri” (Emile Brehier ‘Histoire de la Philosophie’, France 1953, tr.62).

Liệu Chúa có mệt mỏi bởi chính sự im hơi lặng tiếng quá lâu của Ngài? Và liệu Ngài còn kiên trì được bao lâu nữa khi các phương tiện khoa học đang chĩa mũi dùi vào tất cả các ngóc ngách mà Ngài ẩn trốn? Hoặc giả Ngài sẽ nín tiếng và dấu mặt đến tận cùng vĩnh cửu mà chẳng hề thấy khó chịu chút nào? Sẽ như thế đấy! Bởi Ngài là bí nhiệm, là thinh lặng vô biên. Thượng Đế không bao giờ là một vật thể khiến ta có thể buộc Ngài phải xuất hiện.

Kant nói: “Chỉ có vật thể khả hữu tồn tại trong không gian và thời gian, và vì vậy không thể phác họa lên bất cứ nhận thức nào về Ngài.

Nhưng hiển nhiên con người có thể tạo ra ý nghĩa về Chúa. Tâm trí có thể hình thành một ý nghĩ như vậy bất cứ lúc nào nó muốn tìm kiếm nguyên nhân của những nguyên nhân vì nguyên tắc hợp nhất tối hậu của tất cả hữu thể và mọi suy tư.

Có thể tạo ra mọi ý nghĩ về Chúa, nhưng không có bất kỳ cách thức nào để chứng tỏ rằng có một Thiên Chúa.” (Sdd ‘Encyclopedia New Catholic’, A1 – tr.207).

Thượng Đế không hiện tồn trong không gian và thời gian thì làm sao con người có thể nhìn nhận được Ngài khi mệnh danh cái hữu hạn nhỏ bé của mình? Một cái ca có đong được nước của đại dương không? Nếu Thượng Đế là bất khả tri và khi con người không có khả năng chứng nghiệm được Thượng Đế thì tốn giấy mực để bàn về sự bất lực vu vơ ấy làm gì? Nhưng như Kant nói, chúng ta có thể tạo ra ý nghĩa về Thượng Đế. Bởi vậy con đường khách quan duy nhất đầu tiên là luận về Thượng Đế qua ngả suy tư hữu thể luận.

Chúng ta hãy khởi sự từ mình, đó là khởi điểm chắc chắn nhất mà chúng ta xác thực, như Descartes nói: “Tôi có đây tôi hiện hữu”. Và bằng mọi quan năng trong thời gian giữa trời đất chúng ta bó buộc phải thừa nhận hiện thực thứ hai: chúng ta hữu hạn, điều này hoàn toàn có thể đong đo được bằng những chuẩn mực lý thể như trọng lượng, thị lực, thính lực…

Con người là hữu hạn, chúng ta buộc phải thừa nhận điều này! Nhưng chúng ta hãy đặt câu hỏi: nhân danh cái gì và dựa vào đâu để nói con người là hữu hạn? Câu hỏi này sẽ dẫn chúng ta đến một câu hỏi hay một tương quan rằng: nhân danh cái vô hạn, dựa vào cái vô hạn, so với cái vô hạn, chúng ta là hữu hạn.

Cũng như thế, chúng ta hãy đặt một loạt câu hỏi như: kiếp sống của chúng ta có vĩnh cửu? Con người có toàn hảo? Con người có tuyệt đối? Và chúng ta sẽ rút ra một suy luận rằng: cái vô hạn, cái tuyệt đối, cái toàn hảo, cái vĩnh cửu, cái đó không thuộc con người hay chính con người. Và toàn bộ một bao dung vô lượng thể chứa đựng những cái đó là Đấng được gọi là Thượng Đế.

Tuy nhiên Thượng Đế mà chúng ta dò tìm không có tên gọi là Jesus, Boudha, hay Mohamed, mà là Đấng tuyệt đối siêu việt thể, một Thượng Đế bao trùm lên vạn vật. Chúng ta hãy suy ngẫm Thượng Đế của thánh Aquinas qua suy niệm của ông:

Một đằng là hữu thể toàn hảo, tự tại, tất yếu và vô hạn, đằng kia là hữu thể bộ phận, phụ thuộc, ngẫu nhiên và giới hạn”.

Bạn là hữu thể bộ phận hay toàn hảo? Bạn phụ thuộc hay tự tại? Bạn ngẫu nhiên hay tất yếu? Bạn giới hạn hay vô hạn?


7. HỮU THỂ LUẬN VỀ THƯỢNG ĐẾ II

Về hình thái suy luận dựa trên tương quan tất định này, Descartes đã nêu lên một chứng dụ bất hủ, ông cho rằng: Một góc tam giác tất yếu phải liên quan đến hai góc kia, và nó mật thiết đến mức, nếu không có hai góc kia thì cái góc này không được gọi tên và xem xét như là “một góc tam giác”. Bạn hãy tự lắp đặt cơ thể của mình vào một góc tam giác và bạn sẽ thấy bạn thiết yếu liên quan với những góc khác của vũ trụ ra sao. Sau khi suy tưởng ra Thượng Đế từ cái “tôi tư duy” (cogito) của mình, Descartes đã quả quyết: “Thượng Đế đối với tôi có nghĩa là một bản thể vô hạn, vĩnh cửu, bất biến và độc lập, và nhờ bản thể đó mà tôi cũng như sự vật được sinh ra.”

Chúng ta hãy lưu ý cách gọi tên Thượng Đế của Descartes “Bản thể vô hạn”, đây cũng là một nẻo khác để tìm cách chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế. Về điểm này có một số triết gia cho rằng mọi sự vật có thể biến dịch nhưng bản thể của nó bất dịch. Giả sử như những dòng nước luôn luôn chảy chỗ trũng, dòng nước đó có thể tràn bờ vào mùa lũ cũng có thể khô cạn vào mùa hạ, nhưng cái tính chảy chỗ trũng của nó chẳng bao giờ biến đổi. Tính của vật thể bất dịch vĩnh cửu là nhờ cái bản thể duy trì vĩnh hằng nào - nếu không có bản thể vô hạn của Thượng Đế? Bởi vậy Descartes gọi Thượng Đế như một danh xưng khác mang một bản thể vô hạn, vĩnh cửu, bất biến.

Spinoza nói: “Bản tính là vĩnh cửu và vô hạn. Có thể nói bản tính chẳng là gì khác ngoài Thiên chúa bởi lẽ Thiên Chúa là một hữu thể vô hạn tuyệt đối. Ngài mang sẵn thuộc tính mà ở đó mỗi sự vật biểu lộ yếu tính vĩnh cửu và vô hạn” (Sdd ‘La Philosophie Moderne’, tr.104).

Từ căn cứ suy luận này, một số nhà khoa học lý thuyết còn giả định rằng: hệ mặt trời của chúng ta, với trái đất quay đều đặn quanh mặt trời 365 ngày một năm, cũng như mặt trăng thường kỳ soắn xuýt tỏ tình bên trái đất là phải do một mãnh lực âm thâm nào đó duy trì sự vận động đều đặn này. Bởi nếu không có sự duy trì đó, thì ai là người tiếp nguyên liệu cho lòng đất để nó tự xoay quanh lấy mình? Và nếu không cần ai điều khiển, thì ai bắt được vật thể không động cỡn lên lúc chạy thế này – lúc nghỉ thế kia? Không! Tất cả vũ trụ vẫn đang vận động thường hằng và điều độ. Chúng ta hãy đặt câu hỏi thật quyết liệt: tự thân vật thể - chúng có biết đến đức hạnh điều độ không?

Thượng Đế là ai? Ngài có phải Đấng mặc khải mà chẳng bao giờ minh nhiên? Bạn có bao giờ đi qua những phi trường hay khí tượng, ở đó người ta dùng những ống vải hình trụ buộc trên đỉnh các cây cột để đo hướng gió, gió thổi về hướng nào thì ống vải bay về hướng đó, hướng gió thay đổi thì ống vải cũng đổi chiều bay. Tại sao người ta phải làm vậy? Vì mắt con người không nhìn thấy gió, nó buộc phải nhìn qua một miếng vải chuyển động minh nhiên trong những ngọn gió mặc khải diện mạo của mình ở đầy mặt đất. Bởi tính tất yếu của một sức mạnh tiềm ẩn đằng sau hiện tượng, hai nhà triết học Leibniz và Berkeley đã cùng nhận định: “Đằng sau thế giới hiện tượng là một tinh thần vô hạn, nó vừa là cơ cấu hạ tầng vừa là Đấng sáng tạo vũ trụ” (Sdd ‘Four Philosophies’, tr.14).

Chúng ta có chịu thừa nhận đằng sau hiện tượng là một sức mạnh nào đó thúc đẩy hiện tượng có mặt không? Cả Leibniz và Berkeley đều đã gọi tên Đấng chí tôn bằng cái tên “Tinh thần vô hạn”, còn Hegel đã đuổi theo Thượng Đế bằng một ý chí tuyệt đối. Tất cả lãnh vực tinh thần ấy, ngay cả tinh thần của riêng chúng ta thôi cũng trở thành miền đất bất khả khám phá. Chúng ta hãy nghe Freud, ông hoàng phân tâm học lọc lõi thú nhận: Tôi nghiên cứu ý thức, tôi phát hiện ra trước ý thức có tiền ý thức, ở đó tôi có thể hiểu đôi chút về nó; rồi trước tiền ý thức, tôi phát hiện ra cõi vô thức, tại đây tôi phải thừa nhận rằng con người mù tịt và không thể nào hiểu biết về nó.

Dẫn cõi ý thức mờ mịt của con người ra, tôi muốn đi đến một suy luận rằng: cõi ý thức hữu hạn của con người đã vậy, còn cái ý thức vô hạn của Chúa – cái ý thức bay đi khắp hành tinh này thì chúng ta làm sao hiểu được. Song khả dĩ Thượng Đế vẫn giành cho chúng ta một cách hiểu nào đó, khi một giọt nước chảy trong dòng sông, nó sẽ hân hạnh tham dự vào cuộc biến dịch của dòng sông, và nó làng màng thấu hiểu: dòng sông đó có. Còn tinh thần của bạn? Khi bạn thả cho suy tưởng bay đến tận các vì sao, thì liệu nó có gia nhập vào một tinh thần vũ trụ vô lượng và toàn hảo hay không?

Trong đời sống chúng ta thường gặp những câu hỏi trân trối như: anh có nhìn thấy Thượng Đế không? Câu hỏi đó nhân danh cái gì, nó nhân danh đôi mắt! Còn nghe thấy, cảm thấy, nghĩ thấy thì sao? Điện từ trường có trong không gian nhưng chúng ta có nhìn thấy nó không? Song câu hỏi có vẻ đang chọc tức tất cả những trí năng có khuynh hướng siêu việt, vì nó có vẻ tâm tầm quá. Vậy thì, thưa bạn, bạn đừng hỏi tôi có nhìn thấy Thiên Chúa không? Bởi Thiên Chúa không có diện mạo! Bạn đừng hỏi tôi có ngửi thấy Thiên Chúa không? Vì Thiên Chúa không có mùi! Bạn đừng hỏi tôi có nghe thấy Thiên Chúa không? Vì Thiên Chúa không phải là âm thanh! Bạn đừng hỏi tôi có sờ thấy Thiên Chúa không? Vì Thiên Chúa không da thịt! Bạn đừng hỏi tôi có nếm thấy Thiên Chúa không… Bạn hãy nghe câu nói sau đây của Lagneau: “Tin rằng Thượng Đế có theo nghĩa thông tục tức là xúc phạm tới Thượng Đế, là kéo Thượng Đế xuống hàng nhân vật thế gian.”


8. TÂM LINH VÀ TÍN ĐIỀU

Ở phần đặt vấn đề Thượng Đế, tôi có đưa ra mối tương quan mật thiết giữa linh hồn và Thượng Đế, song để bám sát cuộc hành trình lần về cội nguồn theo đúng truyền thống của học thuật, chúng ta buộc phải xem xét tỉ mỉ tiền tương quan này, đó là : có linh hồn không? Và linh hồn là cái gì? Tôi xin bắt đầu bằng một câu trong Phúc Âm: “Nước trời không phải ở thế gian này… nhưng nước trời bắt đầu từ thế gian này”.

Câu nói này có nghĩa nước của Thiên Chúa ở trên trời nhưng lại cắm rễ từ thế gian này. Nghĩa là thế gian là cơ thể, là nền tảng của nước Chúa, giống như cơ thể là nơi trú ngụ của linh hồn vô biên vô lượng. Thánh Augustine nói: “Cơ thể là sự nghiệp đáng chiêm ngưỡng của Chúa, và cấu năng của nó chỉ ra rằng nó được sinh ra để làm kẻ nô bộc cho một linh hồn khả trí” ( Sdd ‘La Philosophie Moderne’, tr.36).

Tuy nhiên, chúng ta chưa thể chấp nhận linh hồn qua ngả Phúc Âm, bởi lẽ như những kẻ đang trải nghiệm Chúa bằng một quan năng sáng suốt, chúng ta không thể lần theo nguồn mạch mà ở đó Chúa đã án ngữ tất định. Chúng ta hãy xem Aristote bàn về linh hồn: “Linh hồn là một thực tại nền tảng của một cơ thể cấu thành tự nhiên”. Ông còn nói: “Linh hồn là một cách thức tất yếu chứa trong mọi vật thể”.

Tại sao linh hồn lại tất yếu ? Để trả lời câu hỏi này chúng ta hãy tham khảo ý tưởng của Platon, có lẽ theo ông thì cái nguyên lý hợp lý trong vật thể, cái khiến vật thể mãi mãi là nó, giống như một tiềm năng bên trong khiến nước cứ chảy miên viễn đời đời, đó là linh hồn. Ông nói: “Phần phi lý, giống như cơ thể chết, trong khi đó nguyên lý lại bất tử - đó là linh hồn” (Sdd ‘Encyclopedia New Catholic’, P11, tr.432).

Để dễ hiểu hơn cả chúng ta hãy xem xét quan niệm sau đây của Spinoza: “Linh hồn là ý tưởng của thân xác”.

Đó là suy niệm của các tiền bối về linh hồn. Về phần mình chúng ta cũng kinh nghiệm được rằng: con người không chỉ là thể xác. Khi con người biết suy tư và quyết định trước khi hành động, nghĩa là nó phải có một tâm trí! Và con người biết mộng mơ hay tưởng tượng, nghĩa là nó phải có một tâm hồn! Tâm trí là gì? Có phải là khả năng soi xét xuất phát từ nơi bạn! Tâm hồn là gì? Có phải là khả năng viễn du xuất phát từ tinh thần bạn! Còn khả năng mà toàn bộ tinh thần của bạn hướng về cõi siêu việt hấp thụ hoặc hút lấy nỗi sợ hãi cũng như niềm thành kính là cái gì? Đó có phải là linh hồn? Tuy nhiên mấy ngả mà tinh thần rẽ qua như tâm trí, tâm hồn, linh hồn dường như là con đường giản lược – phân rẽ của khoa phân tâm học.

Ở đây trong tương quan giữa hai yếu tố thiết yếu của con người chúng ta chỉ nên nhìn nhận vẹn toàn là: thân xác và linh hồn. Mặt khác linh hồn còn tất yếu như là sự nối dài, phóng rọi ra từ các cơ quan thân xác, chẳng hạn như: mắt nhìn thấy những vì sao, tai nghe thấy tiếng động từ xa tít… Theo Descartes thì linh hồn chắc chắn hơn cả thể xác bởi vì ta có thể nghi ngờ về sự có mặt của mình hơn là việc tâm thức đặt câu hỏi: Ta là ai?

Và tâm thức có thể nghi ngờ mọi chuyện, nhưng có việc nghi ngờ ấy là bởi có tâm thức, chứ tự thể xác không biết đặt câu hỏi mà cũng chẳng biết ngờ vực.

Nếu ta không chối nổi việc linh hồn có mặt như thực tại thì ta có khước từ nổi cái mảnh đất mà linh hồn cất cánh bay đến không? Sau khi minh chứng linh hồn là một thực tại tất yếu, thì Descartes đã đi đến một suy luận tất định rằng: Thượng Đế là tất yếu. Bởi lẽ bản tính của linh hồn là suy tưởng, và sự suy tưởng của nó không bay bâng quơ, mà nó nhắm đến vùng trời siêu việt – cái gọi là Thượng Đế.

Có hợp lý không?

Khi chúng ta có đôi mắt, chúng ta sẽ nhìn cái gì? bạn có bao giờ tách được cái nhìn từ đôi mắt với hình ảnh mà chúng đang uống lấy. Và hơn cả thế cái gì chứng tỏ con mắt sáng? Cái nhìn của nó! Cái gì chứng tỏ nó đang nhìn? Vật được nhìn và hướng được nhìn! Bởi vậy đôi mắt chẳng bao giờ tách được ảnh tượng. Còn linh hồn, nó có tách khỏi cõi miền Thượng Đế lúc nào cũng tràn ngập trong lòng nó, vẫy gọi nó, và kéo nó về siêu việt? Kierkegaard khẳng định: “Nước Trời là của tâm hồn”, và ông còn diễn tả “Thượng Đế là một chủ thể, và vì vậy chỉ hiện hữu với chủ thể nội tâm” (sdd ‘Hiện tượng luận về hiện sinh’, tr.55). Theo Kierkegaard thì, chỉ có linh hồn mới được gọi là chủ thể hoặc cái qui định một vật thể có chủ thể, chứ tự vật thể không tự làm nên ông chủ cho mình. Bởi vậy, Thượng Đế là chủ thể sáng thế vũ trụ, Ngài chỉ hiện hữu với chủ thể linh hồn. còn thể xác thì làm sao mà biết được!

Con người là linh hồn! Chúng ta có thể giảm trừ con người của mình sang địa hạt linh hồn như vậy để nhìn nhận chủ thể linh hồn vũ trụ một cách thuần nhất hơn. Và lúc này chúng ta hãy lắng nghe cái hơi thở nhức nhối của đời sống linh hồn: “Cái ngày tốt đẹp nhất là ngày mà linh hồn thấy đói khát” (Scheler).

Và tất nhiên, linh hồn chỉ có thể thỏa mãn cơn khát của mình ở suối nguồn duy nhất: Thượng Đế. Thánh Augustine nói: “Con người bị kẹt giữa vị trí trung gian, nếu bạn có một linh hồn nó sẽ nằm ở giữa, bạn nhìn xuống dưới sẽ thấy cơ thể, bạn ngước nhìn lên trên sẽ thấy Thượng Đế, bạn bị cơ thể kéo xuống nhưng lại được linh hồn nâng lên” (Sdd ‘Encyclopedia New Catholic’, A1, tr.1048)

Con người không chỉ giản lược là cơ thể! Chúng ta lo ăn, lo uống, lo chăm chút cho thể xác, còn linh hồn thì sao, ai chăm chút cho nó? Không! Linh hồn phải có quyền sống tối cao của nó, thậm chí còn quyết tử mạnh mẽ hơn cả thân xác. Trong cuộc đời, chúng ta gặp nhiều người tìm cách cáo chung thân xác của mình khi mà tinh thần họ tuyệt vọng. Ngược lại chẳng mấy khi chúng ta nhìn thấy một người tự tử vì đói khát. Linh hồn sống còn với cơ thể đến mức mà M. Proust đã quả quyết rằng: “Tôi không thể sống được nếu tôi không tin rằng có một trật tự tối cao”.

Trật tự tối cao là gì? Đó có phải mệnh lệnh được phát ra từ chiếc ngai tối thượng của Đấng chí tôn xuống vương quốc siêu việt nơi mọi linh hồn đều tìm đến để phụng hiến, vui hưởng cũng như hái quả làm thức ăn cho mình. Và hơn cả thế, Kierkegaard còn cho rằng, Thượng Đế là nguồn biện chính vô tận cho cuộc hiện sinh yểu mệnh của con người. Con người nhắm đến tính vĩnh cửu của Thượng Đế để lý giải cuộc hiện sinh ngắn ngủi của nó, và cũng để thoát xác vui hưởng sau cái chết. Kierkegaard nói: “Thượng Đế là tối cực của hiện sinh, là chủ thể tối cực biện chính cho tín ngưỡng của con người.”

Chính nhận thức được vai trò của mình trong không gian và thời gian, nên con người mới say khát và cầu nguyện sự toàn hảo và vĩnh cửu. Đó là khát vọng tự thân, bỡi lẽ chỉ có con người mới ý thức được sự vui sống cũng như sự lo chết. Khi ý thức được sự hữu hạn của mình con người khát khao cái vô hạn không có trong kiếp người nhưng đã xuất hiện tất yếu trong ý thức khát vọng của con người. Song dù muốn hay không, con người cũng nhận biết: cái vô hạn không phải là sản phẩm do lòng tham của nó hoảng sợ nghĩ ra khi nhìn thấy nguồn mạch đời sống cạn kiệt dần, mà nó thấy, vũ trụ với không gian vô biên mở ra cùng thời gian vô tận. Không gian và thời gian là vô hạn, chúng bất khả hoại! Đó là sự thật mà con người đã khả tri được trong kiếp hiện sinh ngắn ngủi của mình.

Vậy liệu con người có phải là một tạo vật biết khao khát? Người ta khao khát cái gì? Liệu đây có phải là câu trả lời xác đáng: khao khát cái ở ngoài tầm tay mình. Con tim khao khát tình yêu, có phải nó sẽ tìm cách thổ lộ những lời êm ái dạt dào của nó. Còn khi linh hồn khao khát nó phải làm gì? Còn gì khác hơn, nó còn biết làm gì hơn là cầu nguyện. Bởi thế con người là tín điều của mình, tín điều bày tỏ niềm tin của nó vào sự vĩnh cửu và vô hạn, và đó cũng là vĩnh phúc đời đời không cạn cho cơn khát không ngơi nghỉ của nó. Scheler nói:

“Con người là tạo vật biết cầu nguyện”.

Thượng Đế là ai? (phần 1)
 
ChúngTa.com @ Facebook
 
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,