Tôi đọc bài: "Đạo Công giáo với vấn đề mê tín và tệ nạn xã hội" của TS Phạm Huy Thông

Trần Chung NgọcĐạo Phật ngày nay
06:12' CH - Thứ tư, 26/03/2014

Tôi vừa đọc bài “Đạo Công Giáo Với Vấn Đề Mê Tín Và tệ nạn Xã Hội” của TS Phạm Huy Thông do một thân hữu gửi đến, lấy từ conggiaovietnam.net. Nội dung bài viết của TS Phạm Huy Thông không ngoài mục đích đề cao Công Giáo như là một tôn giáo rất tiến bộ và văn minh, chủ trương bài trừ mê tín và tệ nạn xã hội.

Nhưng thật đáng tiếc, TS Phạm Huy Thông chỉ nhìn thấy cái kim trong mắt người khác mà không nhìn thấy cái đà trong mắt mình [Chúa Giê-su dạy: "Hãy lấy cây sà trong mắt ngươi ra trước rồi hãy lấy cây kim trong mắt người khác ra sau. Đừng phê phán ai để ngươi cũng không bị phê phán."] Nhưng tệ hơn nữa là TS đã không hiểu rõ về chính đạo Công giáo của mình cũng như về truyền thống xã hội và văn hóa của Việt Nam. Rất cường điệu, ông ta mượn lời của Alexandre de Rhodes, cho rằng những gì trái ngược với Công giáo đều là mê tín mà không xét đến bối cảnh lịch sử của Việt Nam qua các thời đại. Sau đây chúng ta hãy đi vào phần phân tích một số tư tưởng của TS Phạm Huy Thông [PHT].


PHT: Có một số người vẫn đồng nhất tôn giáo với mê tín, lạc hậu. Ngay trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2000 viết: “ Mê tín: Tin một cách mù quáng vào thần thánh, ma quỷ, số mệnh và những điều huyền hoặc” ( tr.628). Thế nhưng, ngày nay nhiều nhà nghiên cứu cho rằng không phải tôn giáo là đồng nhất với mê tín, lạc hậu mặc dù chúng đều tồn tại trên cơ sở niềm tin. GS Đặng Nghiêm Vạn- nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu tôn giáo cho rằng: “Cũng cần thấy niềm tin tôn giáo không phải là niềm tin mê muội cuồng tín, thiếu suy nghĩ…Người tín đồ tôn giáo trước hết là người hiểu một cách “ trí tuệ” điều mình tin, điều mình coi là thiêng liêng. Niềm tin tôn giáo cũng không thể xem là những hiện tượng phản văn hoá, trái với tiến bộ, văn minh( 1). Chúng ta có thể xem xét vấn đề này qua trường hợp của đạo Công giáo.

TCN: Trước hết, từ “tôn giáo” quá tổng quát, không thể viết như vậy, vì không ai có thể tổng quát hóa bất cứ điều gì cho tất cả các tôn giáo trong thế gian. Cho nên TS Phạm Huy Thông không thể viết “đồng nhất tôn giáo với mê tín, lạc hậu”. Do đó, câu mà TS Phạm Huy Thông trích dẫn từ GS Đặng Nghiêm cũng trở nên vô nghĩa, vì GS Đặng Nghiêm đã coi mọi tôn giáo đều như nhau ! Hiển nhiên khi chúng ta nghiên cứu về vấn đề tôn giáo thì chúng ta thấy mọi tôn giáo đều khác nhau, thuộc các nền văn hóa khác nhau, có tôn giáo là tôn giáo của trí tuệ, có tôn giáo là tôn giáo của đức tin, có tôn giáo thờ thần, có tôn giáo chủ trương nhân bản và nhân chủ v…v…, cho nên từ “tôn giáo”, viết một cách thiếu suy nghĩ của TS Phạm Huy Thông cũng như của Giáo sư Đặng Nghiêm đều không nói lên được điều gì. Vậy, vấn đề là, khi chúng ta muốn nói về tôn giáo thì chúng ta phải quy định đó là tôn giáo nào và tìm hiểu xem niềm tin tôn giáo đó thuộc loại nào, có phải là niềm tin dựa trên sự hiểu biết, hay chỉ là niềm tin mê muội cuồng tín, thiếu suy nghĩ. Từ đó chúng ta mới có thể quyết định tôn giáo đó có thuộc loại mê tín, lạc hậu hay không?


Câu cuối cùng trong đoạn văn trên của TS Phạm Huy Thông hàm ý là niềm tin Công giáo không phải là mê muội cuồng tín, thiếu suy nghĩ mà là hiểu một cách “trí tuệ” điều mình tin… Nhưng trong suốt bài, TS Phạm Huy Thông không đưa ra bất cứ một luận cứ nào để chứng minh Công giáo không phải là mê tín dị đoan, mà chỉ đề cao Công giáo là đã “nghiêm cấm các hành vi mê tín, dị đoan” [sic], và “phê phán những tập tục lạc hậu, tệ đoan xã hội”, và nghĩ rằng như thế cũng đủ để chứng tỏ niềm tin Công giáo không phải là mê muội cuồng tín, thiếu suy nghĩ mà là hiểu một cách “trí tuệ” điều mình tin… Nhưng sự thực có phải như vậy không? Ai cũng biết, Công giáo là đạo của “đức tin” (faith), mà theo định nghĩa thì “đức tin” là:

1) tin vào những gì mà những người có đầu óc ngay thẳng [right mind] không tin được;

2) tin vào những gì không chắc có thực;

3) tin vào một đấng siêu nhiên cai quản vũ trụ và muôn loài.

Và như vậy TS Phạm Huy Thông đã cố ý tránh né, không bàn đến căn bản giáo lý đã tạo nên niềm tin Công giáo.

Điều đáng trách là TS Phạm Huy Thông đã dùng một tài liệu từ thế kỷ 17 của tên thừa sai thực dân ngu dốt bịp bợm là Alexandre de Rhodes. [Xin đọc bài “Di Hại Của Nền Đạo Lý Thiên La Đắc Lộ” trên http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN50.php]. Cái tên thừa sai Công giáo ngu dốt này đã viết cuốn “Phép Giảng Tám Ngày” mà nội dung đầy những điều thuộc loại mê tín, đồng thời còn xuyên tạc hạ thấp Đức Phật và Đức Khổng Tử, nguyên do chỉ vì một niềm tin mù quáng và sự cuồng tín của hắn về môn thần học mê hoặc lừa dối của Công giáo trong thời đại mà Âu Châu còn nằm dưới sự thống trị của Công giáo, một thời đại mà ngày nay các học giả Tây phương đã gọi là “Thời đại Trung Cổ” (The Middle Ages), hay “Thời Đại Đen Tối” (The Dark Ages) hay “Thời đại của sự man rợ và đen tối trí thức” (The Ages of barbarism and intellectual darkness).. Trong bài “Di Hại Của Nền Đạo Lý Thiên La Đắc Lộ”, [“Đạo Lý Thiên-La Đắc-Lộ” là cụm từ Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang dùng để chỉ những ảnh hưởng tai hại của Thiên Chúa Giáo La Mã (Thiên-La) mà giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc-Lộ) đã mang đến đầu độc đầu óc lớp người dân thấp kém nhất trong xã hội Việt Nam trong thế kỷ 17; Xin đọc Chương 15 trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư (1954-1963) của Giáo sư Quang] tôi đã phân tích cuốn Hành trình Truyền Giáo của Đắc Lộ và chứng minh rằng:

- Về lịch sử, Rhodes cũng chỉ biết lõm bõm.

- Về sinh hoạt người dân thì cũng chỉ là những nhận xét phiến diện, hời hợt.

- Về văn hóa địa phương thì Rhodes mù tịt.

- Và đặc biệt về truyền giáo thì Rhodes có những mánh lới xảo quyệt dụ đạo những người ngu, những điều này thể hiện ngay trong những từ ngữ mà Rhodes dùng trong cuốn sách, trong những mánh lới này chúng ta thấy những niềm tin nhảm nhí về ma quỉ, những phép lạ không thể tin được, và những lý luận ẩu tả, phi lý và láo lếu.

Sau đây tôi xin nhắc lại một đoạn phê bình điển hình về sự bịp bợm của Alexandre de Rhodes:

Trang 74: Với thánh giá Chúa, với nước phép, giáo dân tốt lành đã thông thường đuổi ma quỉ, chữa các thứ bệnh tật. Chỉ cho uống 4,5 giọt nước thánh mà chữa được người mù và cho 2 người chết sống lại. Họ ra đi, cắm thánh giá ở đầu, ở giữa và cuối xóm. Họ đến thăm bệnh nhân, đọc kinh và cho bệnh nhân uống vài giọt nước phép. Không đầy 5 ngày đã chữa khỏi 272 người.

Trang 77: Họ rất quí trọng nước phép, cứ 5, 6 ngày họ lại đến lấy.. Họ cho bệnh nhân uống với những thành quả lạ lùng. Mỗi chủ nhật, tôi buộc lòng phải làm phép với 5 vại lớn, để thỏa mãn lòng sốt sắng của họ.

TCN bình luận: Nước phép hay nước thánh là nước thường đã được ông linh mục bi bô đọc vài câu tiếng La-Tinh để biến nó thành nước phép hay nước thánh. Rhodes đã thông thạo môn thần học bịp bợm dân ngu, nhưng chính ông ta cũng lại ngu không thể tả được mới viết lên được những đoạn trên. Chỉ với 4, 5 giọt nước phép là có thể chữa được người mù, người chết sống lại, và chữa khỏi mọi bệnh tật. Nhưng mỗi chủ nhật ông ta phải phù phép biến 5 vại nước lớn thành nước thánh hay nước phép để thỏa mãn nhu cầu của giáo dân. Một vại lớn có bao nhiêu lít nước? Một lít nước có bao nhiêu giọt nước. Nếu tính ra thì 5 vại nước phép đó có thể chữa cho cả nước Pháp của ông ta khỏi mù, vì trong thế kỷ 17, cả nước Pháp đang mù vì là toàn tòng Công Giáo. Nhưng ngày nay, chẳng cần đến nước phép hay nước thánh (holy water) gì đó mà Pháp cũng đã ra khỏi cảnh mù rồi. Giáo dân Việt Nam dùng loại nước phép đó đã mù lại càng mù thêm vì cái đạo lý Thiên-La Đắc-Lộ bịp bợm hoang đường quá lố lăng chẳng có ai có thể tin được...Vì thế ngày nay chẳng còn ai tin là nước phép hay nước thánh có bất cứ một tác dụng gì ngoài bản chất là nước thường như mọi nước thường khác. Ngày nay, không ai chữa bệnh bằng nước thánh, mà đi khám bác sĩ, hay đi nhà thương, và nhiều khi còn tin thuốc ta hơn là nước thánh. Alexandre de Rhodes viết như trên chỉ để lừa bịp dân ngu vì chính ông ta cũng không tin ở nước thánh. Trong cuốn Hành Trình Truyền Giáo ông ta viết: khi ông ta bị sốt nặng nhưng lại không dùng nước thánh của ông ta để làm cho hết sốt mà lại phải nhờ một Đông Y sĩ cho uống thuốc ta mới hết sốt.

Điều đáng nói là sự di hại của nền đạo lý Thiên-La Đắc Lộ vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay khi TS Phạm Huy Thông dùng cuốn Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài của Rhodes để chứng minh là “đạo Công Giáo nghiêm cấm các hành vi mê tín, dị đoan và phê phán các tập tục lạc hậu, tệ nạn xã hội.”. Đọc cuốn trên của Rhodes ta có thể thấy lại những nhận định của tôi về cuốn Hành Trình Truyền Giáo của Rhodes. Cũng như trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày, trong cuốn Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài, Rhodes lại xuyên tạc viết láo lếu về Đức Khổng Tử, Đức Phật, Lão Tử trong Quyển Một, Chương 18, 19 và 21.

■ Về Khổng tử, Rhodes viết: “Khổng tử không phải là thánh nhân, bởi vì, theo tôi, nếu ngài được gọi là thánh nhân, thì ngài phải biết có một đức Chúa trời dựng nên trời và đất” [sic] (trang 39). [Chuyện “có một đức Chúa trời dựng nên trời và đất “ ngày nay đã trở thành một trò cười cho thiên hạ trước những bằng chứng khoa học bất khả phủ bác về nguồn gốc vũ trụ và con người mà chính Tòa Thánh cũng đã phải công nhận. TCN]

■ Về Đức Phật, Rhodes viết: “Đức Thích Ca chưa đầy 17 tuổi thì đã kết duyên với một công chúa trẻ tuổi tên là Adulala, con gái một vua Ấn khác. Hai năm sau thì sinh hạ được một con gái tên là Hầu La…. Đức Thích Ca bực tức vì không được kết quả trong công việc, liền dựa vào lời bàn của thần thánh quen thuộc để gieo rắc một thứ truyện hoang đường về thần thánh. Thế là có thành quả ngay đến nỗi trong 40 năm hoạt động, vừa dựa vào quyền thế, vừa dựa vào ma thuật, ngài đã cho thành lập và phổ biến khắp Ấn Độ tín ngưỡng trước đây chưa ai biết” (trang 42) [Chúng ta thấy rõ, Rhodes đã dựa vào chính những sắc thái của Công Giáo để suy diễn và bài bác Đức Phật. Vì “gieo rắc một thứ truyện hoang đường về thần thánh” (Chuyện Giê-su sinh ra từ một trinh nữ, làm các phép lạ, chết rồi sống lại và bay lên trời), và “dựa vào ma thuật” (nước thánh, các bí tích) chính là những sản phẩm lừa bịp dân ngu của Công Giáo, chứ trong giáo lý của Đức Phật, không hề có những thứ mà Rhodes bịa ra. TCN]

■ Về đạo Lão, Rhodes viết: “Lão tử, nhà ma thuật đời xưa rất danh tiếng, đã có và còn có rất nhiều đồ đệ có uy tín cới Chúa [Trịnh] và tất cả kẻ sang trọng trong nước. Chẳng có gì đáng khen, chính Chúa và các quan trong phủ cũng bị truyền nhiễm. Là giáo phái thịnh hành ở Đàng Ngoài, vì rất phổ thông và rất liên quan tới ma quỉ.” [Rhodes hiển nhiên không biết đến Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Nếu ông ta biết và hiểu thì ông ta phải vứt cuốn Thánh Kinh của ông ta vào “recycle bin” alias “trash”. TCN]

Một cuốn sách viết láo lếu như vậy mà ngày nay TS Phạm Huy Thông còn dùng nó để chứng minh là Công giáo rất tiến bộ. Bây giờ chúng ta hãy đi vào vài đoạn của TS Phạm Huy Thông [PHT]:


PHT: 1. Đạo Công giáo nghiêm cấm các hành vi mê tín, dị đoan. [Thật vậy sao??]

Công giáo là một tôn giáo độc thần, vì vậy giáo lý của đạo nghiêm cấm việc thờ các thần linh khác và tất cả các hành vi có ảnh hưởng đến căn tính được ghi trong điều răn thứ nhất: Thờ phượng một Chúa Trời và kính mến Chúa trên hết mọi sự. Do đó, các hiện tượng vốn được coi là quen thuộc với phong tục dân gian ở Á Đông và Việt Nam như lên đồng, bói toán, chọn ngày tốt xấu, chọn đất chôn táng, đốt vàng mã…đều bị đạo Công giáo cấm tín đồ tham gia. Ai dù vô tình hay cố ý tham gia đều coi là lỗi phạm giới răn thứ nhất và buộc phải sám hối, xưng tội trước toà giải tội.

TCN: Công giáo là một tôn giáo độc thần, đúng vậy. Nhưng thần đó là thần như thế nào, có đáng để con người thờ phụng không? Tôi nghĩ rằng, niềm tin tôn giáo của TS Phạm Huy Thông thực sự không phải là do “hiểu một cách “ trí tuệ” điều mình tin, điều mình coi là thiêng liêng

mà là một niềm tin mù quáng về một vị thần của dân tộc Do Thái mà người Công giáo Việt Nam gọi là Thiên Chúa hay Chúa Trời. Nhưng thật ra Thiên Chúa của Công Giáo là như thế nào? Có lẽ TS Phạm Huy Thông không hề đọc Thánh Kinh và cũng không biết đến một số nhận định về Thiên Chúa của Công Giáo của những người đã đọc kỹ Thánh Kinh như sau:

1) Tổng Thống Thomas Jefferson của Mỹ, sau khi đọc cuốn “Thánh Kinh”, đã nhận định về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo là “một nhân vật có tính tình khủng khiếp – độc ác, ưa trả thù, đồng bóng, và bất công” [Thomas Jefferson describes The God of Moses as “a being of terrific character – cruel, vindictive, capricious and unjust].

2) Giám mục John Shelby Spong: Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng. [ John Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, p. 24: A literal Bible presents me with far more problems than assets. It offers me a God I cannot respect, much less worship.]

3) Linh mục Công giáo James Kavanaugh viết về “Huyền Thoại Cứu Rỗi” trong cuốn Sự Sinh Ra Của Thiên Chúa (The Birth of God), xin đọc: http://sachhiem.net/TCNtg/TCN36.php :

Nhưng đối với con người hiện đại. chuyện hi sinh của Giê-su chẳng có ý nghĩa gì mấy, trừ khi hắn đã bị reo rắc sự sợ hãi và bị tẩy não từ khi mới sinh ra đời (But to modern man, it makes far less sense unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth). Đối với tôi (Linh mục James Kavanaugh), đó là một huyền thoại “cứu rỗi” của thời bán khai, miêu tả một người cha giận dữ [Thiên Chúa], chỉ nguôi được cơn giận bằng cái chết đầy máu me của chính con mình. Đó là một chuyện độc ác không thể tưởng tượng được của thời bán khai (It is a primitive tale of unbelievable cruelty).

4) Nhưng đặc biệt hơn cả là khi đọc Richard Dawkins trong cuốn “The God Delusion”, ấn bản 2008, tôi thấy tác giả đưa ra tới 16 nhận định về Thiên Chúa của Ki Tô Giáo rất đáng để chúng ta nghiên cứu để tìm hiểu sự thật. Mở đầu Chương 2, trang 51, về “Giả Thuyết Về Thiên Chúa” [The God Hypothesis], tác giả Richard Dawkins viết:

Không cần phải bàn cãi gì nữa, Thiên Chúa trong Cựu Ước là nhân vật xấu xa đáng ghét nhất trong mọi chuyện giả tưởng: ghen tuông đố kỵ và hãnh diện vì thế; một kẻ nhỏ nhen lặt vặt, bất công, có tính đồng bóng tự cho là có quyền năng và bất khoan dung; một kẻ hay trả thù; một kẻ khát máu diệt dân tộc khác; một kẻ ghét phái nữ, sợ đồng giống luyến ái, kỳ thị chủng tộc, giết hại trẻ con, chủ trương diệt chủng, dạy cha mẹ giết con cái, độc hại như bệnh dịch, có bệnh tâm thần hoang tưởng về quyền lực, của cải, và toàn năng [megalomaniacal], thích thú trong sự đau đớn và những trò tàn ác, bạo dâm [sadomasochistic], là kẻ hiếp đáp ác ôn thất thường. [1]

Tôi nghĩ rằng, tất cả những tác giả trên phải có lý do gì mới dám viết ra những điều như vậy, vì có tới gần 1/3 nhân loại, nghĩa là khoảng gần 2 tỷ người, tuyệt đại đa số thuộc thành phần thấp kém, ít hiểu biết trong xã hội, tin và thờ phụng Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, và nhất là họ lại viết và xuất bản ngay trên nước Mỹ, một nước văn minh tiến bộ nhất nhưng lại lạc hậu nhất về niềm tin Ki Tô Giáo còn sót lại trên thế giới. Và khá lạ lùng, cuốn The God Delusion của Richard Dawkins lại là một cuốn sách thuộc loại bán chạy nhất ở phương trời Âu Mỹ. Những nhận định của Richard Dawkins như trên không hề sai, chúng đã được chứng minh rất đầy đủ qua những trích dẫn từ cuốn Thánh Kinh của Công giáo: http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/3NGOI/TCN64_2.php.

Như vậy, thần của Công giáo so với các thần cổ xưa trong dân gian Việt Nam như thần cây đa, thần bình vôi v…v… thì thần nào có hại cho nhân loại hơn. Bản chất của thần cây đa, hay thần bình vôi không khác gì thần của Công giáo, vì cùng là những đối tượng của một niềm tin, nhưng những người tin vào thần cây đa, thần bình vôi chưa hề làm hại ai, trái lại những người tin vào thần của Công giáo đã gây ra 7 núi tội ác đối với nhân loại mà Giáo hoàng John Paul II cùng Bộ Tham Mưu của ông ta đã phải xưng thú cùng thế giới ngày 12 tháng 3 năm 2000 tại Vatican. Do đó giáo lý Công giáo “nghiêm cấm việc thờ các thần linh khác và tất cả các hành vi có ảnh hưởng đến căn tính được ghi trong điều răn thứ nhất: Thờ phượng một Chúa Trời và kính mến Chúa trên hết mọi sự” chỉ là nhắc lại huyền thoại của dân tộc Do Thái về một vị thần của họ trong thời bán khai, một vị thần đang bị đẩy lui vào hậu trường ở Âu Châu trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại. Điều đáng nói ở đây là các tín đồ Công Giáo Việt Nam đã bị mê hoặc để đi thờ phụng một thần không đáng thờ phụng, và vì thiếu hiểu biết, nên đã nhắm mắt tuân theo.

Theo TS Phạm Huy Thông thì giáo lý Công giáo nghiêm cấm việc thờ các thần linh khác. Nhưng những phong tục dân gian ở Á Đông và Việt Nam như lên đồng, bói toán, chọn ngày tốt xấu, chọn đất chôn táng, đốt vàng mã không phải là thờ thần linh khác và không ai bắt ai phải tin những phong tục như vậy. Những việc như trên, khi người dân hiểu ra thì họ sẽ không còn thực hành nữa. Vậy tại sao Công giáo phải nghiêm cấm? Phải chăng Công giáo chủ trương bài bác tất cả những phong tục tập quán trong nền văn hóa khác không phù hợp với nền văn hóa độc thần trịch thượng của Công giáo. Nhưng thực ra, một số trong những phong tục trên không phải là không có ý nghĩa. Đạo Công giáo cấm tín đồ tham gia vì không hiểu ý nghĩa của các phong tục dân gian, và vì theo sách lược độc tôn, độc thần. Những gì không phù hợp với chủ thuyết Công Giáo đều bị nghiêm cấm, thí dụ như tục lệ thờ cúng tổ tiên hay những nghi thức về cưới hỏi, tang lễ trong dân gian. Đó chính là sự ngu xuẩn của Công giáo trong một thế giới mà các nền văn hóa đều khác nhau. Nhưng thực ra Công giáo không chỉ nghiêm cấm tín đồ không được thờ các thần linh khác mà còn ra lệnh cho tín đồ phải tìm cách tiêu diệt những người thờ thần linh khác, phá hủy đền thờ miếu mạo của những người thờ thần linh khác. Đó là sự man rợ của Công giáo. Và đây cũng là điều TS Phạm Huy Thông tránh né không đụng tới. Chứng minh?

Giáo lý Công giáo bắt nguồn từ đâu? Có phải là từ cuốn Thánh Kinh không? Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong Cựu Ước về lệnh lạc của Thiên Chúa của Công giáo mà TS Phạm Huy Thông tin rằng phải “thờ phượng và kính mến trên hết mọi sự”:

PHỤC TRUYỀN 6:17; 7:1-5: PHẢI TUYỆT ĐỐI TUÂN HÀNH CÁC ĐIỀU RĂN, LUẬT LỆ CỦA THIÊN CHÚA... KHI ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN CÁC NGƯƠI VÀO VÙNG ĐẤT MÀ CÁC NGƯƠI SẼ CHIẾM HỮU…CÁC NGƯƠI PHẢI TẬN DIỆT HỌ, KHÔNG ĐƯỢC LẬP GIAO ƯỚC, KHÔNG ĐƯỢC THƯƠNG XÓT... KHÔNG ĐƯỢC GẢ CON GÁI MÌNH CHO CON TRAI HỌ, HOẶC CƯỚI CON GÁI HỌ CHO CON TRAI MÌNH VÌ HỌ SẼ DỤ CON CÁI CÁC NGƯƠI THỜ CÚNG CÁC THẦN CỦA HỌ MÀ BỎ CHÚA HẰNG HỮU.. CÁC NGƯƠI PHẢI ĐỐI XỬ VỚI HỌ NHƯ SAU: PHẢI PHÁ HỦY NHỮNG BÀN THỜ CỦA HỌ, PHẢI ĐẬP PHÁ NHỮNG CỘT TRỤ THIÊNG LIÊNG CỦA HỌ, ĐẬP NÁT NHỮNG HÌNH TƯỢNG BẰNG GỖ, ĐỐT SẠCH CÁC TƯỢNG CHẠM CỦA HỌ..

PHỤC TRUYỀN 20: 12-18: LÚC KÉO QUÂN ĐẾN TẤN CÔNG MỘT THÀNH NÀO, NẾU THIÊN CHÚA CHO CÁC NGƯƠI HẠ ĐƯỢC THÀNH ĐÓ, PHẢI GIẾT HẾT ĐÀN ÔNG TRONG THÀNH, NHƯNG BẮT GIỮ ĐÀN BÀ, TRẺ CON, SÚC VẬT, VÀ CHIẾM GIỮ CÁC CHIẾN LỢI PHẨM...BÊN TRONG LÃNH THỔ CHÚA BAN CHO, PHẢI DIỆT HẾT MỌI SINH VẬT. PHẢI TẬN DIỆT DÂN HÊ-TÍT, A-MO, CA-NA-AN, PHÊ-RẾT, HÊ-VÍT VÀ GIÊ-BU NHƯ CHÚA ĐÃ TRUYỀN DẠY. NHƯ VẬY HỌ KHÔNG CÒN SỐNG ĐỂ DỤ DỖ ĐỒNG BÀO HỌ LÀM TỘI ÁC, THỜ CÚNG THẦN CỦA HỌ MÀ MANG TỘI VỚI CHÚA.

Có phải là Công giáo Việt Nam đã từng theo sát những luật lệ này không? Cho đến ngày nay, Công giáo vẫn ép người ngoại đạo phải học giáo lý nhồi sọ của Công giáo trước khi lập gia đình với người có đạo. Chúng ta hãy bỏ qua những gì Công giáo đã thực hành các điều răn trên khi xâm lăng các nước trên thế giới như ở Mỹ Châu, Nam Mỹ và Phi Châu, và hãy đọc một chút về lịch sử xâm lăng của Công giáo vào Việt Nam.

Một trong những tài liệu có tính cách tổng hợp về sự xâm lăng của Công Giáo vào Việt Nam là của Helen B. Lamb, trong cuốn Vietnam's Will to Live. Sau đây là vài đoạn trong đó, xin độc giả để ý đến những lời văn châm biếm rất ý nhị của tác giả.. và chúng ta có thể thấy trong đó tất cả những sắc thái trong tài liệu của Alexandre de Rhodes mà TS Phạm Huy Thông sử dụng:

"Những sự giao tiếp giữa Pháp và Việt Nam từ thế kỷ 17 trở đi đều theo một mô thức cổ điển xâm nhập Á Châu của Tây phương. Mới đầu là các thừa sai và con buôn. Rồi các nhà ngoại giao đến can thiệp, nhân danh cả hai, và cuối cùng, quân lính tiến vào, áp đặt sự thống trị của ngoại quốc - lẽ dĩ nhiên là để làm tốt cho dân bản xứ.

Động cơ chính để một nước đi chiếm thuộc địa và những vùng ảnh hưởng là sự chiếm hữu một cái gì đó, quyền lực, uy tín, của cải, hay những thứ cưỡng đoạt được...Trong trường hợp nước Pháp, họ đặt nặng vấn đề tôn giáo. Là những người cầm đuốc soi sáng cho những người khác về chủ thuyết Công giáo, người Pháp đã lao mình vào một cuộc Thánh chiến để mang tới cho dân Việt Nam món quà vô giá, cơ hội để sống đời đời, bất tử.

Chỉ khi nước Pháp trở thành thế tục hơn trong thế kỷ 19, họ mới đặt nặng chiêu bài "nhiệm vụ văn minh hóa" - trong những quốc gia mà niềm tự hào về nền văn minh cổ của họ rất là chính đáng.

...Dù các con buôn bị đối đãi lạnh nhạt đến đâu thì các thừa sai Tây phương còn bị nghi ngờ hơn nữa. Sau năm 1645, khi Alexandre de Rhodes bị bắt cầm tù và rồi bị trục xuất, theo những con buôn người Anh tới giao thương ở Việt Nam thì các thừa sai phải ngụy trang dưới dạng con buôn.

...Một triết gia Đông phương hiện đại, khi giải thích về sự đối kháng của Á Châu đối với những nhà rao bán Phúc Âm Ki Tô Giáo (truyền giáo), đã nhấn mạnh đến thái độ kiêu căng điển hình của thừa sai Ki Tô như sau:

"Cái óc Tây phương của các ông thường quá bị ám ảnh bởi ý tưởng chinh phục và chiếm hữu, cái thói quen dụ người khác vào đạo đã ăn sâu trong đầu óc các ông cũng là một hình thức chinh phục và chiếm hữu... Rao giảng về giáo thuyết của các ông chẳng phải là một sự hi sinh, mà là đắm mình trong một sự xa xỉ nguy hiểm hơn mọi xa xỉ vật chất rất nhiều. Nó nuôi dưỡng trong tâm các ông một ảo tưởng là các ông đang làm bổn phận - rằng các ông khôn ngoan hơn và giỏi hơn đồng loại của các ông.."

Sự phỉ báng tất cả những gì của Á Châu được thấy rõ, ngay từ lúc đầu, trong thái độ của những thừa sai Pháp đối với những tôn giáo ở Việt Nam, như chúng ta đã thấy trong những thư từ liên lạc và tác phẩm của họ. [Đó là những gì Alexandre de Rhodes đã làm và ngày nay TS Phạm Huy Thông còn đưa nó ra như để chứng minh Công giáo là đạo tiến bộ]

...Bất kể là những sự khác biệt giữa các tôn giáo ở Việt Nam như thế nào, chúng thật không đáng kể so với cái vực thẳm ngăn cách những tôn giáo này với giáo hội hiếu chiến Công giáo.. Các Vua Việt Nam coi chủ thuyết Công giáo như là một sự đe dọa đến quyền hành của họ, và coi những người Việt Nam theo đạo như thuộc hạng chót trong một hệ thống quyền lực tôn giáo chặt chẽ dưới quyền những giám mục ngoại quốc. (Bị ngoại nhân hoàn toàn thống trị đến độ giáo hội Gia Tô Việt Nam không có một giám mục Việt Nam nào được bổ nhiệm cho tới thập niên 1930, 400 năm sau khi những giáo sĩ thừa sai Gia Tô đầu tiên tới Việt Nam) Ở trên những giám mục ngoại quốc là một giáo hoàng ngoại quốc ở tận La Mã xa xôi, và những tín đồ Việt Nam này trung thành và tuân lệnh giáo hoàng thay vì hoàng đế Việt Nam. [Ông Tổng Ngô Quang Kiệt, trong vụ Tòa Khâm Sứ, đã nghe lệnh của Vatican và coi thường lệnh của chính quyền Việt Nam]

Những thừa sai thì hoàn toàn xa lạ với Việt Nam và với ý tưởng hòa hợp giữa các lý tưởng tôn giáo khác nhau. Đối với dân ngoan đạo Công giáo thời đó thì chỉ có hai quan điểm đối ngược, hoặc đúng hoặc sai, không thể có một sự thỏa hiệp hay đối thoại nào giữa hai quan điểm trên. Các thừa sai coi thường tín ngưỡng và cách hành đạo địa phương, cho chúng là sai lầm... [Đây là những gì Rhodes viết trong cuốn Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài]

Nhiều bản báo cáo thời đó mô tả sự việc các thừa sai đã mang vào Việt Nam một số lượng lớn Âu dược chữa bệnh cho dân chúng để "chiếm lòng họ." (Linh mục de Courtaulin, trích trong tác phẩm của Taboulet, trg. 42). Nhưng trong những hoạt động dụ người vào đạo, các thừa sai Công giáo đã khai thác sự sợ hãi và hi vọng của đám dân ngu dốt và nhẹ dạ cả tin. Những kẻ tân tòng coi Ki Tô Giáo như là một hệ thống ma thuật mới. Nước thánh Công giáo được dùng với hi vọng có thể đuổi được quỷ ám, cứu người chết sống lại, làm cho người mù sáng mắt trở lại v...v.. [Đây chính là sự bịp bợm phóng đại đến độ ngu xuẩn của Rhodes khi viết về tác dụng của nước thánh].

Tin vào sự không thể sai lầm của Công giáo, những hội viên trong Hội Truyền Giáo Hải Ngoại đã tấn công Phật Giáo, coi Phật Giáo như là vô thần và thờ hình tượng, và chỉ trích nặng nề Khổng giáo về tục lệ thờ cúng tổ tiên. [Đây chính là những gì Rhodes viết trong những cuốn Phép Giảng 8 Ngày, Hành Trình Truyền Giáo, và Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài]

...Đối với những nhà lãnh đạo Việt Nam, toàn thể giáo thuyết Ki Tô bị coi là không thực. Theo quan điểm của Nho gia thì bản chất con người là tốt; chỉ cần được huấn luyện cho tốt để có thể sử dụng lý trí của mình mà phân biệt giữa tốt và xấu. Con người không cần phải được "cứu rỗi" bởi sự can thiệp của Chúa Ki Tô hay Thiên Chúa, và nếu cho rằng Chúa Ki Tô có khả năng như vậy thì đối với giới Nho sĩ, đó cũng không khác gì một sự mê tín.

Giáo điều Ki Tô, ngoài tính chất thô thiển và không hợp lý, còn bị coi như là thật sự nguy hiểm, vì nó làm cho con người xa cách với gia đình để tìm sự giải thoát cho riêng mình.

... Bằng sự đe dọa hỏa ngục và sự đày đọa đời đời, các giáo sĩ thừa sai bắt buộc những đàn chiên Việt Nam của họ phải theo đuổi ly rượu Thánh cho sự sống đời đời của mình trong một thế giới sau thay vì làm những bổn phận hiếu thảo trong đời này. Những nhà cấm quyền Việt Nam đặc biệt lo ngại về giáo điều xưng tội của Công Giáo, coi đó như là một cách áp đặt quyền lực trên giáo dân. (Không những thế, đây cũng là một cách lấy tin tức tình báo quân sự rất hữu hiệu. TCN).

...Như là một sự thách đố đối với thiên tài của Khổng giáo trong việc hòa hợp các tín ngưỡng khác nhau, Công giáo đã chứng tỏ là một tôn giáo hoàn toàn không thể tiêu hóa nổi. Trong bốn thế kỷ, Công giáo vẫn còn như là một lực lượng chia rẽ trong xã hội Việt Nam. Để tăng cường cái vực thẳm ý thức hệ giữa những tín đồ Công giáo và đại khối dân tộc, những tín đồ Công giáo thường sống trong những làng mạc riêng biệt, dưới quyền thống trị của các linh mục, y như những làng mạc trong thời Trung Cổ ở Âu Châu cách đây 500 năm. [Linh Mục Trần Tam Tĩnh đã gọi những làng mạc riêng biệt này là những “ốc đảo ngu dốt”]

Về mặt văn hóa cũng vậy, những người Việt Nam tân tòng Công giáo trở thành cô lập với nền văn hóa chủ đạo. Để phổ biến giáo lý Công giáo, các thừa sai đã nghĩ ra một dạng chữ mới theo mẫu tự La Mã gọi là Quốc Ngữ, một cách phiên âm tiếng Việt họ dùng để dạy những đàn chiên của họ. Họ dịch những sách cầu nguyện hay kinh sách Công giáo khác ra loại chữ mới này, nhưng không dịch văn chương Việt Nam. Điều này có nghĩa là những tín đồ Công giáo Việt Nam, vì không còn học ở các trường làng do các thầy Nho dạy, không thể đọc được tiếng Việt, gọi là chữ Nôm, hay chữ Hán được dùng trong mọi văn kiện công cộng. Chữ Quốc Ngữ là một trong vài đóng góp có ảnh hưởng lâu dài vào nền văn minh Việt Nam của Tây phương, nhưng ảnh hưởng tức thời của nó là chia rẽ quốc gia và đánh thẳng vào gốc rễ văn hóa của Việt Nam.

Đối với một quốc gia mà lý tưởng là sự hòa đồng trong cộng đồng và lối sống theo những qui định giao thiệp giữa con người với nhau, sự xâm nhập của Công giáo biểu thị cho sự xáo trộn và bất hòa trong xã hội.

Ngay từ ngày đầu, những người xây dựng Công giáo ở Việt Nam đã cố ý coi thường chính quyền Việt Nam và đã dùng đến phương cách hối lộ và gian lận để đạt được những mục đích của họ." [2]

Đọc lại lịch sử Việt Nam trong giai đoạn Francis Garnier chiếm thành Hà Nội và các tỉnh lân cận như Phủ Lý, Nam Định, Hải Dương v..v.. chúng ta sẽ thấy sự thực về vai trò cộng tác, tiếp tay, hỗ trợ của giáo dân Công giáo Việt Nam cho những đoàn quân xâm lăng ngoại quốc như thế nào, và họ đã làm những gì để tuân theo luật của Thiên Chúa. Mark L. McLeod, viết trong cuốn The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874, trg. 114-122:

"Bản chất và mức độ hỗ trợ những đoàn quân viễn chinh Pháp của những tín đồ Gia Tô là như thế nào?

Những thư từ liên lạc và phúc trình của Balny và Harmand, được Garnier phái đi chinh phục nhiều tỉnh lỵ và những điểm trọng yếu trong miền đồng bằng, cho chúng ta thấy một kiểu hỗ trợ đáng kể của những tín đồ Công giáo bao gồm - nhưng không chỉ giới hạn ở - những nhiệm vụ hành chánh và quân sự. Những nguồn tài liệu này cũng cho chúng ta thấy một kiểu xoay sở lẫn nhau giữa các sĩ quan Pháp và các thừa sai Công giáo với kết quả là những kẻ "tình nguyện" thường cũng được lợi bằng hay hơn những sĩ quan Pháp.

... Để giúp chúng ta hiểu rõ hơn, chúng ta hãy xét tới những hành động của Balny tại Phủ Lý và Hải Dương và của Harmand ở Nam Định, và nhấn mạnh đến sự liên hệ giữa Bộ Truyền Giáo Công giáo và các lực lượng quân sự Pháp. Sự phân tích những hành động này cho thấy, trong những cuộc tấn công vào những cứ điểm của chính quyền Việt Nam, quân đội Pháp đã nhận được một mức độ hỗ trợ rất đáng kể từ những thừa sai và những tín đồ Công giáo Việt Nam. Hơn nữa, những phương pháp mà các sĩ quan Pháp và những cộng tác viên Công giáo dùng tuyệt đối không thể coi là có đạo đức cao theo những tiêu chuẩn đương thời của ngay chính họ, vì những phái bộ truyền giáo Công giáo đã dùng sức lao động (của tín đồ Công giáo bản xứ; TCN), tài nguyên, và tin tức tình báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để thực hiện sự tàn sát liên miên người "lương", mạo phạm những công trình xây dựng của Phật Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi-Công giáo, và cướp bóc những thành phố của nhà Vua. Sự cộng tác với chủ nghĩa đế quốc Pháp của những tín đồ Công giáo thường không được các sử gia nhận biết đầy đủ, nhưng đó chính là một yếu tố đáng kể góp phần thắng lợi cho Pháp ở Bắc Kỳ." [3]

Chúng ta thấy, TS Phạm Huy Thông đã bỏ sót những ảnh hưởng và hành động tai hại của Công giáo Việt Nam khi ông ta chỉ viết rằng giáo lý Công giáo nghiêm cấm tín đồ thờ các thần linh khác. Chúng ta hãy đọc tiếp TS Phạm Huy Thông:

Tôi đọc bài: "Đạo Công giáo với vấn đề mê tín và tệ nạn xã hội" của TS Phạm Huy Thông
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,