Triết học nước Pháp

Henri Bergson - Phạm Quỳnh dịchThượng Chi văn tập - Bộ Quốc gia Giáo dục (1962)
02:24' CH - Thứ bảy, 08/11/2014

Trong bài bàn về “văn minh học thuật nước Pháp”, đã có nói qua ít lời về triết học nước Pháp. Nhưng muốn biết rõ công nghiệp người Pháp về đường triết học, thời phải thuộc lịch sử triết học ở nước Pháp từ đầu Cận đại đến giờ. Những sách thuật về lịch sử ấy cũng nhiều, nhưng không sách nào vắn tắt mà đầy đủ, sáng suốt mà sâu xa bằng tập “pháp quốc triết học đại quan” (La philosophie francaise) của Henri Bergson. Ông là một nhà triết học trứ danh nhất trong thế giới bây giờ. Phàm người trí thức trong các nước, đều có chịu cảm hóa của tư tưởng ông. Vì học thuyết của ông chủ trương sự hoạt động phấn khởi, lấy cái sức sáng tạo biến hóa làm nguyên động lực của vũ trụ, thật là hợp với thời đại tư tưởng tự do này. Năm 1915, bộ Giáo dục nước Pháp muốn tham dự cuộc đấu xảo vạn quốc ở San Francisco bên Mỹ một cách đặc biệt, định biên tập một bộ sách kể công nghiệp nước Pháp trong các khoa học đời nay, đề là “Học thuật nước Pháp” (La Science francaise), gồm các nhà bác học trong nước, mỗi người chuyên thuật một khoa, người nói về giáo dục, kẻ bàn về xã hội, người này kể thiên văn học, người kia thuật địa chất học họp lại như bức gấm trăm hoa, tóm tắt được hết cái công phu học vấn của nước Pháp trong thế kỷ mới này. Phần “triết học” là thuộc về Bergson tự thuật, chính là tập “Triết học đại quan” này. Nay muốn giới thiệu triết học nước Pháp cho các học giả Việt Nam, tưởng không gì bằng lược dịch ra quốc văn tập sách này: muốn nhập môn khoa triết lý, không thầy nào đích đáng bằng.

***

I

Địa vị nước Pháp trong lịch sử tiến hóa của triết học đời nay thật là rõ ràng lắm: nước Pháp là nước có cái công khởi xướng rất lớn, các nước khác không phải là không có những nhà triết học đại tài, nhưng không đâu cái nguồn triết học được đều đặn liên tiếp bằng ở nước Pháp. Các nước khác hoặc nghiên cứu một lý tưởng sâu hơn, hoặc kết cấu những tài liệu khéo hơn, hoặc phát triển một phương pháp rộng hơn; nhưng thường thường lý tưởng ấy tài liệu ấy, phương pháp ấy, nguyên do tự nước Pháp đem lại cả. Đây không thể thuật được hết các học thuyết, kể được hết các tên người xưa đến nay. Phải lựa chọn nhưng điều cốt yếu và cố phân giải cho rõ những đặc tính của tư tưởng triết học nước Pháp. Phải xét vì đâu mà tư tưởng ấy có tài sáng tạo, có sức ảnh hưởng mạnh như thế.

Cả triết học cận đại bắt đầu tự Descartes. Học thuyết của ông không thể tóm tắt được: ngày nay khoa học triết học tiến được bước nào, xét trong học thuyết ấy lại rõ ra một phương diện mới thành ra học thuyết ấy ví như một công trình thiên nhiên, cứu xét không bao giờ cùng. Nhưng khoa giải phẫu học muốn xét một cơ quan hay một tổ chức nào trong thân thể người ta, phải cắt ra từng lớp một, vậy thì ta cũng bắt chước mà đem học thuyết của Descartes “giải phẫu” ra từng lớp, lớp nọ đến lớp kia, càng tiến càng sâu vậy.

Nay xét một lớp thứ nhất thì thấy gọi là cái “triết học những quan niệm rõ ràng phân biệt” (philosophie des idées claires et distinctes). Triết học này đã có công giúp cho tư tưởng đời nay thoát khỏi vòng độc đoán, biết lấy sự “phân minh” mà quan niệm về chân lý.

Xét xuống một lớp nữa mà suy nghĩ kỹ về nghĩa chữ “phân minh” thời thấy tựu trung có hàm hẳn một phương pháp về triết học. Descartes là nhà triết học, lại vừa là nhà số học nữa. Ông đã từng sáng nghĩ ra một phép kỷ hà học mới, ông rất tinh thông những phương pháp về số học. Phương pháp ấy ông muốn đem ứng dụng ra triết học, nên lấy sự rõ ràng đích xác làm cốt.

Lại xét sâu xuống một lớp nữa mà suy nghĩ kỹ về phương pháp số học ứng dụng ra triết học, thời thấy tựu trung lại gồm một quan niệm chung về vũ trụ. Cứ phương pháp ấy thì vũ trụ tức là một bộ máy lớn, vận động theo những phép tắc số học. Lý thuyết ấy thật là mở đường lối, đặt khuôn phép cho khoa lý học đời nay. Các nhà triết học về sau xướng lên những học thuyết thuộc về “cơ giới đích” chính là tổ thuật tư tưởng Descartes cả.

René Descartes (1596-1650)

Lại sâu một tầng nữa, dưới quan niệm về vũ trụ ấy thấy một quan niệm về linh tính người ta, tức Descartes gọi là cái “trí tư tưởng” của người ta. Ông muốn giải phẫu phân tích cái trí tư tưởng ấy ra từng phần tử phân minh, chính là mở đường cho các nhà triết học về sau như Locke, Condillac. Ông lại xướng lên rằng tư tưởng ấy vốn là thuộc về “tiên thiên”, vốn có từ trước, thế giới hiện tượng là thuộc về “hậu thiên” sau một phụ vào, thế giới ấy chẳng qua là tiêu biểu cho linh tính mà thôi. Chủ nghĩa duy tâm đời nay là phát nguyên tự đó, thứ nhứt là chủ nghĩa duy tâm của các nhà triết học Đức.

Sau nữa, trong cái thuyết về trí tư tưởng ấy, lại còn hàm có ý muốn đem sự tư tưởng tùy theo về ý chí. Bởi thế nên các phái triết học thuộc về ý chí về thế kỷ thứ 19 đều có liên lạc với triết học của Descartes cả. Cũng bởi thế mà có người cho triết học của ông là một triết học chủ tự do.

Xét như vậy thì Descartes thật là tị tổ cả các phái triết học đời nay. Lại xét về một phương diện khác thời tuy học thuyết của ông có giống ít nhiều với các học thuyết đời Cổ đại cùng đời Trung cổ, nhưng phần cốt yếu là tự sáng kiến của ông, không phải sở đắc ở cái thuyết ấy. Biot là một nhà số học lý học trứ danh, đã từng khen kỷ hà học của Descartes, nói rằng học của ông là cái học không tiền khoáng hậu.

II

Tuy triết học của Descartes là bao hàm cả các học thuyết đời nay, nhưng có chủ nghĩa duy lý là phần rõ rệt hơn cả, phàm tư tưởng triết lý về các đời sau đều lấy đó làm chốt. Song ngoài chủ nghĩa ấy, trong triết học đời nay còn có một tư trào nữa, thường bị chủ nghĩa ấy che lấp đi mất. Tư trào này là tư trào thuộc về “tình”, chữ “tình” đây phải hiểu theo nghĩa rộng của các nhà tư tưởng về thế kỷ thử 17 là nghĩa phàm cảm giác không cần phải suy lý, cứ trực tiếp mà biết. Tư trào “duy tình” ấy cũng là khởi nguyên tự một nhà triết học nước Pháp, như cái tư trào “duy lý” trên kia. Nhà triết học ấy là Pascal (1623-1662). Ông đề xướng một lối triết học không thuộc về lý tính mà thuộc về tâm tình. Ông cho rằng sự suy lý thường hay thiên về “tri khúc chiết” (esprit de géomérie), có cái tính cách số học, phải lấy “trí tinh nhuệ” (esprit de finesse) mà bổ cứu lại. Tuy nhiên, lối triết học ấy dẫu không phải là “duy lý”, nhưng cũng không phải là sự huyền tư mặc tưởng mơ hồ, vì những tư tưởng ấy vẫn có công hiệu rõ ràng, có thể tự kiểm điểm được. Như vậy thời Pascal quả chính là tị tổ các phái triết học lấy tình cảm làm chủ, cũng tức như Descartes là tị tổ các phái triết học lấy lý tính làm cốt. Phàm triết học đời nay là chia theo hai cái chủ nghĩa ấy đều phát nguyên tự nước pháp tiêu biểu bằng hai nhân vật trứ danh, là Descartes và Pascal.

Hai ông ấy đều phản đối cái lối siêu hình học của người Hi Lạp ngày xưa. Nhưng trí người Âu trong mấy mươi đời đã lấy cái học ý làm đồ ăn nuôi mình, không thể nhất đán bỏ ngay đi được. Triết học Hi lạp, nhất là triết học của Aristote là cái học duy nhất của đời Trung cổ. Đến đời Phục hưng, thịnh hành nhất cũng lại là triết học của Platon.

Vậy thời sau Descartes tất có người muốn điều hòa triết học của ông với triết học cổ điển của Hi lạp. Vả nhà triết học thường có khuynh hướng muốn tổ chức tư tưởng của mình thành “hệ thống”, mà học thuyết của Platon cùng Aritstote chính là hai “hệ thống” tuyệt phẩm, đời sau ai cũng phải lấy đó làm khuôn mẫu. Như vậy thì triết học cũ của người Hi lạp vẫn còn lợi dụng được nhiều. Bởi đó mà sau Descartes, nhà triết học Hà Lan Spinoza, nhà triết học Đức Leibniz; tuy phát minh được nhiều tư tưởng mới, nhưng đại để cũng là điều hòa triết học của ông với triết học của Aristote ngày xưa. Đặc tính của triết học nước Pháp vẫn là không hứng những công trình kết cấu lớn về siêu hình học, sau đây sẽ xét vì cớ gì; nhưng khi nào hứng thời tổ chức cũng chẳng kém gì triết học các nước. Xem như học thuyết của Malebranche thì đủ biết. Học thuyết này thật là một hệ thống hoàn toàn, chẳng kém gì các hệ thống của Spinoza hay là Leibniz. Tác giả cũng chủ điều hòa cái học của Descartes với cái học cũ của Hi Lạp. Nhưng cái lâu đài tư tưởng đã kết cấu nên thật là vĩ đại mà trang nghiêm.

Malebranche lại còn hơn các nhà kia là trong hệ thống của ông, không phải chỉ có một phần siêu hình học mà thôi, lại còn kiêm cả phần tâm lý học, đạo đức học rất đích đáng nữa, khiến cho dù bộ phận trên có không đủ tận tín, bộ phận dưới cũng vẫn còn có giá trị. Đó chính là một đặc sắc của triết học nước pháp; triết học nước Pháp dù có tổ chức thành hệ thống cũng không mắc cái tật độc đoán, không hề đem sự thực mà uốn nắn cố ép cho vào khuôn hệ thống của mình, thành ra những vật liệu dùng để dựng lên cái lâu đài lý tưởng, ngoài cái lâu đài ấy vẫn còn dùng việc khác được. Lâu đài ấy dù phá đi nữa, những mảnh còn lại cũng vẫn là hữu dụng.

III

Descartes, Pascal, Malebranche, đó là ba tên lớn trong triết học nước Pháp về thế kỷ thứ 17. Ba ông là ba bậc mô phạm chung của các phái triết học đã xuất hiện trong cận đại.

Về thế kỷ thứ 18, sức sáng tạo của triết học nước Pháp cũng vẫn mạnh như thế. Nhưng đây cũng không thể kể hết được. Chỉ thuật qua mấy học thuyết quan trọng nhất, cùng kể mấy tên chính mà thôi.

Ngày nay trong giới triết học mới bắt đầu biết đến công nghiệp của Lamarck (1744 -1829), ông là nhà bác vật kiêm triết học; chính ông đã khởi xướng ra cái thuyết tiến hóa (théorie de l’évolutiol) Chính ông là người trước nhất đã sáng nghĩ ra suy diễn đến cùng cái lý tưởng rằng các giống sinh vật là bởi giống nọ biến hóa mà thành ra giống kia. Nhà bác vật nước Anh Darwin sau này cũng đề xướng một thuyết như thế: nói vậy không phải là để giảm danh dự của Darwin đâu. Ông này tuy ra sau, nhưng đã có công nghiên cứu về thực tế kỹ hơn, nhất là đã có công phát minh ra lẽ “sinh tồn cạnh tranh” cùng phép “vạn vật đào thải”. Nhưng cạnh tranh cùng đào thải cũng là mới giải được cách biến đổi thế nào, chưa giải được cớ sở dĩ làm sao mà biến đổi, chính Darwin cũng phải chịu như thế. Trước Darwin, Lamarck đã từng giảng lẽ biến đổi các giống vật cũng phân minh như thế, mà lại cố tìm để giải nguyên nhân thế nào nữa.

Ngày nay có nhà bác vật lại trở về cái học cũ của Lamarck, hoặc để điều hòa cái học ấy với cái học của Darwin, hoặc để cải lương “Lạp học” (Lamarckisme) mà thay vào “Đạt học” (Darwinisme). Xem thế thời biết nước Pháp về thế kỷ thứ 18, bởi tay Lamarck đã cống hiến cho khoa học và triết học một nguyên tắc lớn để lý hội cái “thế giới hữu cơ”, cũng tức như về thế kỷ trước, bởi tay Descartes đã cống hiến cho khoa học và triết học một nguyên tắc lớn để lý hội cái “thế giới vô cơ” vậy.

Vả trước Lamarck, nước Pháp cũng đã có nhiều nhà bác vật như Buffon (1707-1788), Bonnet (1720-1793), nghiên cứu về các giống vật, về lẽ sinh hoạt, phát minh được nhiều điều mới lạ, tức cũng là mở đường sẵn cho Lamarck.

Đại để các học giả Pháp về thế kỷ thứ 18 là sưu tập tài liệu để cho thế kỷ sau dựng lên các học thuyết về vạn vật. Trên vừa nói thuyết tiến hóa tức là vấn đề về căn nguyên các giống vật. Còn vấn đề về sự quan hệ của tinh thần (l'esprit) với vật chất (la malière) cũng do các nhà triết học Pháp về thế kỷ thứ 18 khởi xướng lên. Tuy phần nhiều là thiên về mặt “duy vật”, nhưng cách biện thuyết phân minh tường tận, khiến cho muốn giải ra mặt khác cũng được. Nên nhớ mấy tên như La Mettrie (1709-1751) Cabanis (1757-1808) v.v...

Học thuyết của các nhà ấy thực là khai đường mở lối cho môn học mới gọi là tâm sinh lý học (psycho physiologie), phát đạt trong thế kỷ thứ 19. Nhưng không những một môn học mới ấy, chính ngay khoa tâm lý học cũng khai nguyên tự các nhà triết học Pháp về thế kỷ thứ 18 nhất là Condillac (1715-1780). Ông này tuy có chịu ảnh hưởng ít nhiều nhà triết học nước Anh Locke, nhưng chính Locke cũng đã chịu ảnh hưởng của Descartes trước.

Đây không nói đến triết học về xã hội, triết học này là thuộc về xã hội học rồi. Nhưng ai chẳng biết rằng nước Pháp về thế kỷ thứ 18 đã gây dựng ra khoa chính trị học khởi xướng lên những tư tưởng làm biến đổi cả xã hội. Montesquieu (1689 -1755), Turgot (1727-1781), Condorcet (1743-1794) nghiên cứu những lý tưởng về pháp luật, về chính thể, về sự tiến bộ của loài người, v.v..., Diderot (1713-1784), d’Alembert (1717-1783), La Mettrie (1709 -1751), Helvetius (1715-1771), d’Holbach (1723 -1789), thì chủ trương cái tư trào muốn lấy “lý” (la raison) mà hoán cải nhân loại, đưa nhân loại vào thời kỳ máy móc.

Nhưng mà thế lực mạnh nhất trong lịch sử tư tưởng nước Pháp từ Descartes đến giờ, thực là thế lực của Jean-Jacques Rousseau (1712-1778).

Ông gây nên cuộc biến cách trong cõi triết học thực tế cũng sâu và cũng mạnh bằng cuộc biến cách của Descartes trong cõi triết học thuần lý. Nhất thống các vấn đề, ông đều sát hạch lại cả. Phàm cái gì là ước lệ, là cựu truyền, là phương tiện của người ta đặt ra, ông phá đổ đi hết. Ông muốn gây dựng lại xã hội, cải tạo lại luân lý, sắp đặt lại phép giáo dục, sửa sang lại cả đời người theo một nguyên tắc thiên nhiên. Dù không chịu tư tưởng ông, cũng phải phục phương pháp của ông. Vì phương pháp ấy là thuộc về tình cảm, tức là phương pháp “duy tình” của Pascal khi xưa, nhưng đem đến cực điểm. Tuy tư tưởng của ông không dựng thành “hệ thống”, nhưng các nhà triết học về thế kỷ thứ 19, nhất là các nhà triết học Đức, đều chịu ảnh hưởng ông sâu xa lắm, không những triết học, đến mĩ thuật, văn chương cũng bị cảm hóa như thế. Công nghiệp ông về đường tư tưởng, thực là mỗi thời đại lại thấy xuất hiện ra một phương diện mới. Hiện nay ta vẫn còn kế thừa công nghiệp ấy.

IV

Ấy đại khái lịch sử triết học nước Pháp trong hai thế kỷ thứ 17 và 18 như vậy. Đó mới gọi là lược thuật qua loa thôi, không thể kể được hết nhà tư tưởng các phái, chỉ nói đến những người trứ danh nhất mà thôi. Thế mà cũng được bấy nhiều tên rồi. Đến thế kỷ thứ 19 này lại còn nhiều hơn nữa. Vì trong thế kỷ này, không có một văn sĩ Pháp nào là không có phần trong công triết học nước Pháp.

Hai thế kỷ trước là đề xướng ra các khoa học thuần lý cùng các khoa học thuộc về vật chất vô cơ như số học, trọng học, thiên văn học, vật lý học, hóa học thế kỷ thứ 19 này lại nghiên cứu thêm các khoa học thuộc về sự sinh hoạt nữa: không những sự sinh hoạt của vật chất hữu cơ, mà đến cả sự sinh hoạt của nhân quần xã hội nữa.

Về các môn đó, người Pháp cũng vẫn có công khởi xướng. Phương pháp để học là do người Pháp phát minh ra; một phần kết quả của sự học cũng là bởi người Pháp gây nên. Hai học giả trứ danh nhất trong thời kỳ này là Claude Bernard (1813-1878) và Auguste Comte (1798-1857).

Claude Bernard có làm một bộ sách đề là “Thực nghiệm y học tổng luận” (Inlroduclion à la médecine expérimetable: sách ấy đối với các khoa học thực nghiệm, giá trị cũng chẳng kém gì sách “Phương pháp luận” (Dis cours de la méthode) của Descartes đối với các khoa học thuần lý. Tức là sách một nhà sinh lý học đại tài tự hỏi mình về phương pháp học của mình, lấy sự kinh nghiệm riêng mà đặt thành phép tắc để giúp cho việc thí nghiệm nghiên cứu về sau. Sự thí nghiệm về khoa học như Claude Bernard đã định như thế, thực là một bài vấn đáp của người ta với tạo vật. Người ta hỏi tạo vật thế này, tạo vật đáp lại thế kia, khiến cho người ta lại phải hỏi ra thế khác, tạo vật cũng lại đáp ra thế khác nữa, càng hỏi càng kỳ, càng đáp càng lạ, vấn đáp vô cùng. Vậy thì khoa học không phải là sự thực, cũng không phải là tư tưởng; khoa học là tư tưởng của người ta cùng với sự thực của tạo vật giúp lẫn nhau mà làm nên, cho nên bao giờ cũng chỉ là tiêu biểu cho hiện tượng mà thôi. Điều cốt yếu trong học thuyết của Claude Bernard là cho rằng “lý” của người ta với “lý” của tạo vật thực là cách xa nhau lắm (1). Về phương diện ấy thì ông chính là khai đường mở lối cho cái triết học “duy thực” (pragmatisme) ngày nay.

Auguste Comte 1798-1857

Sách “Thực tiễn triết học” (Cours de Philosophie positive) của Auguste Comte là một công trình lớn lao trong triết bọc đời nay. Từ ông Comte phát ra cái lý tưởng rằng các khoa học phải có trật tự, bắt đầu từ số học mà cùng tận đến xã hội học thì lý tưởng ấy đã thâm nhập vào trong trí não người ta mà thành một chân lý tuyệt đối. Tuy cái xã hội học của ông có một đôi chỗ ngày nay có thể biện bác được, nhưng ông thực là đã có công sáng tạo ra môn học ấy. Ông đặt cho nó có chương trình, có phạm vi nhất định để người sau cứ thế mà theo. Ông cũng là một nhà cải cách trong tư tưởng như Socrate ngày xưa, cũng lấy câu của Socrate: “Phải tự biết lấy mình” (Connais toi toi même) làm châm ngôn, nhưng không dùng câu ấy đối với cá nhân, mà lại dùng đối với xã hội, cho rằng mục đích tối cao của sự học vấn, nhất là của triết học là phải nghiên cứu cho biết cách người ta ăn ở trong xã hội thế nào. Ông tuy chủ trương cái triết học gọi là “thực tiễn chủ nghĩa” (positivisme), tuy tự xưng là phản đối mọi sự học vấn siêu hình, nhưng tâm hồn trí não ông thực là tâm hồn trí não một nhà siêu hình học, đời sau cho ông đã phá đổ thần thánh các tôn giáo cũ là chỉ để lập ra một tôn giáo mới, đặt ra một vị thần mới, là thần “Nhân loại”. Ông yêu mến sùng trọng loài người đến thế là cùng.

Mới xét thì tưởng triết học của Renan (1823-1892) không giống gì với triết học Auguste Comte. Nhưng thực ra thì Renan cũng một lòng thờ nhân loại như Auguste Comte, duy thờ ra một cách khác thôi. Ông cảm hóa người đương thời một cách rất đằm thắm và rất sâu xa, là bởi nhiều lẽ. Một là bởi văn chương ông tuyệt phẩm, văn chương ấy không biết có còn gọi là văn chương được nữa không, vì đọc câu văn tựa hồ như quên cả rằng trong văn có dùng đến lời đến chữ, mà tưởng như tư tưởng của tác giả tự rót vào tư tưởng của ta vậy. Lại chủ nghĩa lạc quan về lịch sử của ông cũng thích hợp với thế kỷ thứ 19 này, là thế kỷ đã khôi phục và mở mang các khoa học về lịch sử. Ông cho lịch sử là biên chép cái công tiến bộ của loài người, sự tiến bộ ấy từ xưa đến nay không bao giờ dứt, mà từ nay đến sau cũng không bao giờ cùng. Ông lại cho rằng sử học có thể đem thay vì triết học, thay vì tôn giáo được. Bởi thế mà ảnh hưởng ông trong thế kỷ thứ 19 này thực là sâu xa vô cùng.

Còn một nhà triết học nữa, ảnh hưởng trong nước Pháp cũng mạnh bằng Renan, mà ngoài nước Pháp có lẽ lại mạnh hơn nữa. Nhà triết học ấy là Taine (1828-1893). Ông giốc lòng tin sự học vấn, nhất là các môn học về người ta. Ông muốn đem phương pháp của vật lý học mà dùng để nghiên cứu những sự nghiệp của loài người, như văn chương, mĩ thuật, lịch sử. Ông lại cảm hóa cái học của các tiền triết nhiều, cũng tin lẽ tất nhiên trong vũ trụ như Spinoza, tin sức tư tưởng của người ta như Aristote và Platon ngày xưa. Như thế thì ra ông cũng thiên về siêu hình học cũ. Nhưng ông hạn chế cái siêu hình học ấy trong vòng nhân loại cùng những công việc của loài người mà thôi. Học thuyết của ông không giống học thuyết của Auguste Comtee, như học thuyết Renan. Thế mà người ta thường liệt ông vào phái “thực tiễn” cũng như Renan, không phải là không có lẽ. Vì cái “triết học” thực nghiệm tuy có thể định nghĩa ra nhiều cách được, nhưng rút lại cũng chỉ là một quan niệm về vũ trụ lấy người ta làm trung tâm. Như vậy thì dù Auguste Comte, Renan, hay Taine cũng cùng một quan niệm ấy cả, nên tuy không giống nhau mà đều có thể cho là thuộc về phạm vi triết học thực tiễn cả.

Trở lên đã xét hai phương diện triết học về sinh vật và triết học về xã hội trong thế kỷ thứ 19, thấy phần nhiều là bởi công người Pháp gây dựng ra. Ngoài hai môn học ấy, còn có một môn nữa, riêng cho thế kỷ thứ 19 này, là tâm lý học. Không phải rằng các thời đại trước, nhất là ở Pháp, Anh cùng Ecosse, không đã từng có nhiều nhà tâm lý học sâu sắc. Nhưng mà sự quan sát về nội tâm người ta, từ xưa đến nay chỉ chủ xét những trạng thái thường mà thôi, nên chưa vào sâu được trong tâm giới, nhất là vào cõi xa xôi u ám gọi là cõi “tiềm thức” (subconscience).

Đến thế kỷ thứ 19, tuy vẫn còn giữ những phương pháp quan sát cũ về nội tâm, nhưng lại dùng thêm hai phép nữa: một là phép đo lường của các nhà thí nghiệm, hai làm phép chẩn đoán của các nhà bệnh học để nghiên cứu những biến trạng trong tâm tính. Trong hai phép ấy thì phép đo lường dùng ở nước Đức nhiều hơn; tuy cũng là một phương pháp hay, nhưng thật không ích lợi cho sự học mấy. Đến như phép chuẩn đoán về bệnh học thì hiện thanh hiệu được nhiều lắm, có lẽ sau này còn có kết quả nhiều hơn nữa. Phép ấy khởi nguyên tự nước Pháp, mà cũng thịnh hành nhất là ở nước Pháp. Xướng ra trước tự mấy nhà y học chuyên môn bệnh thần kinh về đầu thế kỷ thứ 19, đến Moreau de Tours mới thành hẳn một biệt phái về tâm lý học. Tự bấy giờ ở nước Pháp vẫn có những danh sư chuyên trị về khoa ấy, hoặc là nhân bệnh học mà chuyển sang tâm lý học, hoặc là nhân tâm lý học mà đổi ra học các bệnh thuộc về tinh thần. Có mấy nhà trứ danh nên ghi nhớ là Charcot, Ribot, Pierre Janet, Georges Dumas.

Henri Bergson (18/10/1859-4/1/1941)
Henri Bergson (18/10/1859-4/1/1941)
 
ChúngTa.com @ Facebook
 
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,